Ai là
tác giả
Huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái?
Tâm
Hảo HỒ PHÙNG
Tôi đọc cuốn Gia Ðình Phật
Tử Việt Nam - 50 Năm Xây Dựng do Ban Ðiều Hợp Trung Ương Gia Ðình Phật
Tử Việt Nam Hải Ngoại xuất bản, có đề cập đến huy hiệu "Hoa Sen
Trắng tám cánh trên nền xanh lá mạ xuất hiện trong thời gian có
Ðoàn Phật Học Ðức Dục (trang 40) và trang cuối cùng (533) có trích hai
câu đầu của bài hát Dây Thân Ái. Tôi đọc từ đầu đến cuối, nhất
là thời kỳ thành lập và đoàn ngũ hóa (1943-1953), từ lúc Gia Ðình
Phật Hóa Phổ và Ðoàn Phật Học Ðức Dục ra đời. Sách trình bày rất
rõ ràng và còn in hình nhiều huy hiệu, các bản nhạc thường dùng
trong các gia đình Phật tử, hình bìa các tạp chí Phật giáo cũng như
Biên bản các buổi họp. Nhưng sách hoàn toàn không nhắc đến tác giả
của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái.
Tác phẩm trên đây được ra
đời ở hải ngoại là một hạt ngọc đáng được trân quý. Những tài
liệu dưới đây chỉ nhằm cung ứng cho lần tái bản sau, ngoài ra không
có ý gì khác.
Ðộng cơ hay hoàn cảnh nào
khiến tôi đặt câu hỏi nầy?
Về huy hiệu Hoa Sen: Gia
đình Phật Hóa Phổ do Cư sĩ Tâm Minh, tức Bác sĩ Lê đình Thám làm Phổ
trưởng vào năm 1940. Huy hiệu Hoa Sen, trên năm cánh, dưới ba cánh, ra
đời trong khoảng thời gian sau đó không xa. Mới đây, Ðảng Bharatiya
Janata Party (BJP) ở Ấn Ðộ, trong ngày nhậm chức của Thủ Tướng, đảng
viên phất cờ có in huy hiệu Hoa Sen trên năm cánh dưới ba cánh, kết
cấu tương tự như huy hiệu Hoa Sen của Gia đình Phật tử Việt Nam. Vậy
thì huy hiệu Hoa Sen nào ra đời trước và giữa hai huy hiệu đó liệu có
tương quan gì không?
Về bài ca Dây Thân Ái:
Bài ca Trại Áo Lam của
Mạnh Cương, Mồng Tám Tháng Tư (Mừng Khánh Ðản) của Lê Mộng Nguyên,
Sen Trắng (Bài ca chính thức của GÐPTVN) của Ưng Hội, Phạm Hữu Bình,
Nguyễn Hữu Quán, Phật Giáo Việt Nam của Lê Cao Phan, Xuất Gia của
Hoàng Lang, Ðoàn Liên Hương (Bài ca chính thức của Ðoàn Thiếu Nữ Phật
Tử) của Hoàng Cang, Trầm Hương Ðốt của Bửu Bác.là những bài ca xuất
hiện trong thời kỳ phôi thai của Gia Ðình Phật Tử. Hai bài ca thường
được dùng trong sinh hoạt của Ðoàn, thứ nhất là bài Sen Trắng
"Kìa xem đoá hoa trắng thơm, nhìn hào quang chiếu sáng trên
bùn." là bài ca mở đầu cho buổi sinh hoạt thường xuyên hay định
kỳ, thứ hai là bài Dây Thân Ái "Dây Thân Ái lan rộng muôn
nhà. Tay sắp xa nhưng tim không xa.", hát lúc sắp chia tay, là
những bài ca xuất hiện trong cùng thời kỳ nay vẫn còn làm vương vấn
biết bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều lớp tuổi. Bài Dây Thân Ái cho đến
nay, rất nhiều người vẫn chưa biết ai là tác giả!
Tình cờ, tôi biết ai là
tác giả.
Tôi và tác giả vẫn
thường dùng điện thư để thăm hỏi và tâm tình. Tác giả là một đồng
nghiệp, ngành thủy lâm, cùng lớp tuổi với cha mẹ tôi. Nhân chuyện
một người bạn tôi, qua điện thư, ngõ ý muốn xuất gia, tác giả đã
đề cập vấn đề nầy một cách nhiệt tình, chúng tỏ rất uyên thâm về
Phật giáo. Về lãnh vực chuyên môn thủy lâm, cuộc đời tác giả có
thể viếât thành một thiên hồi ký. Chính đề nghị tha thiết của tôi
về việc viết hồi ký, tác giả thực sự phân vân mãi. Tác giả nghĩ
rằng mình là một Phật tử nên quên cái Ngã (Ta) của mình, nhưng trong
anh em đồng nghiệp viết cho nhau biết về cuộc đời của mình thì không
biết có nên hay không? Thực tình, cuộc đời của tác giả ít ai biết
nhiều, kể cả con cái trong nhà! Thấy tôi tỏ ra thú vị về cuộc đời
lang bạt, có có không không, có nhiều đóng góp cho đoàn thể Phật
tử lúc còn phôi thai, tác giả bắt đầu kể cho tôi nghe nhiều chuyện,
trong đó có nhắc đến diễn tiến hình thành Gia đình Phật tử Việt Nam.
Từ đó, tôi biết tác giả của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái
là Ông Lê Lừng, nay 80 tuổi, đang còn sống ở bên quê nhà.
Trích một bài viết của
tôi về cuộc đời Ông Lê Lừng
"Sau khi học hết Thành
Chung (xưa gọi là Diplome) anh Lừng thi vào ngành thủy lâm vì bản tánh
không thích ở một chỗ mà thích đi đây đó. Tôi nghĩ trong cung Mệnh
của anh Lừng có lẽ có bộ sao Mã Khốc Khách hay Thiên di, Thiên đồng
hợp chiếu. Lúc bấy giờ, ngành thủy lâm hoàn toàn do người Pháp
quản trị.Không có ai người Việt làm Trưởng Khu (Chef de Cantonnement).
Có một lúc, khi thua trận Nhật bản, một số lính thủy (matelot) người
Pháp giữ chức vụ Trưởng Hạt (Chef de Division), nhưng đa số không biết
chữ. Ðó là tình trạng tại Sông Dinh, khi đi kiểm điểm ghi kích thước
cây, thay vì Trưởng cơ quan cầm Sổ Kiểm điểm thì anh Lừng lại cầm Sổ
Kiểm Ðiểm, còn người Pháp thì cầm thước kẹp, thước dây đi đo, cầm buá
đi đóng. Năm 1942, anh Lừng vào làm ở Sông Dinh, Trưởng Hạt là Ông
Nguyễn Thế Viên, rồi Ông Từ Câu. Sau đó anh Lừng về Phan Thiết, phụ
tá cho một garde general, người lai Pháp, rồi đến đời Ông Ðặng Hiếu
Khán. Năm 1960, anh Lừng đổi vào làm Bộ Cải Tiến Nông Thôn, đời
Ông Trần Lê Quang. Ðến năm 1962, anh Lừng xin về Nha Thủy Lâm. Chính
giai đoạn từ 1942 đến 1950, anh Lừng cho biết đã học rất nhiều về
lâm nghiệp. Sau 1975, anh ấy chỉ làm vài tháng, rồi cùng gia đình đi
làm ruộng ở Phú Hội, Lâm Ðồng. Suốt thời gian làm một người kiểm
lâm từ 1942 cho đến ngày nghỉ việc về với ruộng đồng, anh Lừng tha
thiết với lâm phần, nhưng một mình không làm nên nỗi mùa xuân cho
rừng thiêng, dù có thiết tha cũng đành chôn vùi vào kỷ niệm. Ở
lớùp tuổi nầy, anh Lừng chỉ còn sống với kỷ niệm, âm thầm nhìn lại
những tấm hình do mình chụp vào những ngày xa xưa ấy. Là một Nhiếp
ảnh viên, những phong cảnh núi rừng thơ mộng và trữ tình như cảnh
Biển Lạc, Núi Ông, Lăng Cầu, đầu nguồn sông La Ngà, đỉnh núi Ðại
Bình, cảnh rừng U Minh, ven theo rừng Ðước.đã cuốn hút "người săn
ảnh" vào kiếp sống rày đây mai đó. Kỷ niệm vẫn còn dạt dào
lúc sống trong những buôn Thượng chứa chan tình thân thiết hay buổi
sáng tinh mơ nghe tiếng chim đa đa kêu tha thiết ở ven rừng. Cuộc đời
của anh Lừng với bản tánh thích tự do, phóng khoáng, thích làm những
việc mà anh cho là bình thường mà thật ra không bình thường trong
thiên hạ, làm rồi quên đi, sống ở nơi chân trời góc biển như một
kẻ lãng tử giang hồ. Anh đã sống thật trọn vẹn với cuộc sống của
một người kiểm lâm, leo rừng lội suối, thẩn thờ bên bờ suối một
mình hát nghêu ngao hòa điệu với tiếng nước róc rách, chim hót trên
cành hay dừng chân trong một buôn làng hẻo lánh để hòa mình trong
tiếng chày gĩa gạo đêm trăng. Anh vẫn thường nói, anh không được đào
tạo chuyên môn ở trường, nhưng tôi nghĩ chính anh Lừng đã trưởng
thành trong thực tế của nghề nghiệp, đó mới là vốn quý. Ngày xưa
sống như vậy nhưng ngày nay anh Lừng ăn chay trường đã trên hai chục
năm rồi để giữ gìn sức khỏe, chứ không phải tu hành gì cả, là một
quyết tâm lớn. Anh nhớ lại vào hồi 1944, 45, khi Nhật sắp đầu hàng
Ðồng Minh, ngành Thủy lâm bắt đầu giao cho chánh phủ Việt nam, vì
người Pháp phần thì bị Nhật bắt, phần thì trốn đi. Hạt Sông Dinh cũng
bị giải thể vì ở đó chỉ lơ thơ không đầy vài chục người dân, tuy trụ
sở của Hạt rất khang trang, nhà cao cẳng toàn bằng gỗ, và đầy tiện
nghi. Vì Hạt không còn hoạt động, anh Lừng phải xách va-li về Phan
Thiết, nhập chung với Hạt Phan Thiết. Nói là xách va-li vì tất cả
tài liệu của Hạt đều nằm trọn trong cái va-li đó. Nói là về đó
làm việc, chớ kỳ thật, ngày nào máy bay Ðồng Minh cũng vào bỏ bom
Thị xã Phan Thiết nên phần ai nấy lo đi tản cư, không còn bụng dạ
làm việc nữa. Riêng anh Lừng thì tản cư lên Lại An, một làng cách
Phan Thiết khỏang 7 cây số. Hồi ấy, gần ngày 6-3-1945 là ngày Nhật
đầu hàng, ngày nào lính Nhật cũng kéo nhau đi từng đoàn, không rõ đi
đâu. Lúc ấy, tại Lại An, Xóm Lụa, Mủi Né, Phú Hài, có một trận
dịch tả (cholera) mà người ta gọi là bệnh thiên thời làm chết rất
nhiều người. Không ai dám đi đâu cả, ai nấy đều lo chạy giặc, nên
không thể đi Bệnh viện Phan Thiết xin thuốc được. Xung quanh nhà anh
Lừng đang ở trọ ngày nào cũng có người chết, trong xóm người lăn ra
chết quá nhiều. Hồi ấy người ta chỉ mong đợi nơi quỷ thần phò hộ,
tin tưởng nơi mấy ông thầy pháp nhưng khổ nỗi ông thầy vừa cúng cho
bệnh nhân xong trở về nhà thì thầy cũng lăn đùng ra chết. Anh Lừng
thấy vậy, bèn ra tay làm liều, thử xem, vì không giúp thì người ta
cũng chết, chi bằng cứ làm ẩu theo suy nghĩ của mình, còn nước thì
còn tát. Không phải lấy mạng sống con người mà thí nghiệm, nhưng
bước đường cùng rồi, không ra tay thì họ cũng chết thôi. Anh đã nghĩ
đến thuốc tím (permanganate de potasse) là một hóa chất khử trùng rất
tốt, thường dùng để rửa rau, rửa mụt nhọt.Anh lấy thuốc tím pha với
nước sôi để nguội rồi cho họ uống với phân lượng đàng hoàng thì
người bệnh ói ra nước trắng. Thấy có nhiều hy vọng nên hôm sau tiếp
tục cho các người bệnh khác uống. Anh cũng cẩn thận làm sổ ghi tên
họ bệnh nhân, dung luợng, cho uống xong anh còn đạp xe đạp đi thăm
thử ai sống ai chết. Lần lần tiếng đồn xa, người ở các vùng khác
cũng đến xin anh thuốc. Anh phải nấu sẵn nước, chứa trong lu và phải
về dược phòng (pharmacy) ở Phan Thiết mua thêm thuốc tím thì mới đủ
cung ứng. Mỗi lần anh cho bệnh nhân uống một chai xa xị thuốc, uống
một ngày một chai. Có người đến báo là uống thuốc của Thầy Hai cho
bị bí đái, không đi tiểu được. Anh liền tra cứu sách, cho họ uống lá
mã đề. Thế mà cứu mạng sống cho khỏang 50 người. Sau nạïn dịch, gia
đình bệnh nhân đem cho nào là hột gà, nào nếp, nào gạo thơm, nào
nước mắm để "tạ ơn" Thầy Hai, nhưng hồi đó "Thầy
Hai" còn độäc thân, lúc nào cũng nhớ mình là một Hướng đạo
sinh, là một Phật tử, nên quà cáp lăng nhăng đó đều giao cho chủ
nhà trọ. Anh Lừng nói nhiều khi mình "ngu" mà cũng làm được
việc! Một thầy lang bất đắc dĩ!
Anh Lừng nhắc đến bài ca
Dây Thân Ái làm tôi nhớ lại, lúc tôi còn nhỏ, tôi thường hát mỗi
khi sắp chia tay các bạn trong Khuôn Hội Phật Giáo Vĩnh Nhơn ở Thành
Nội Huế. Anh cũng nhắc đến cái huy hiệu (logo) hoa sen năm cánh màu
xanh lục mà các em trong Gia Ðình Phật Tử được gắn lên ngực sau khi
làm lễ nhập Ðoàn. Thật không ngờ tác giả của bản nhạc và huy hiệu
là do anh Lừng sáng tác. Mãi đến bây giờ ít ai biết được điều đó.
Việc anh Lừng góp công sức sáng lập Gia đình Phật Hóa Phổ, khởi đầu
từ miền Trung, theo anh, là do nhân duyên cả. Anh ấy vẽ huy hiệu hoa
sen vào khoảng năm 1939 hay 40. Lúc bấy giờ, anh Lừng và Ông Lê đình
Luân, con trai của Bác sĩ Lê đình Thám, là Hướng đạo sinh Ðoàn Ðinh
Bộ Lĩnh ở Huế. Gia đình không cho anh gia nhập Hướng đạo, bảo rằng
bọn xì-cút (scout) là bọn vác gậy mang bị gầy ốm như kẻ đi ăn xin.
Không thực hiện được ý thích của mình, lại thêm bản tánh chuộng tự
do, anh ấy bèn mua một chiếc xuồng nang khá rộng rãi sống như kiểu
thoát ly gia đình. Ban đêm thì ngủ ở xuồng, ban ngày đi ăn cơm tháng,
đi dạy học và viết bài cho Bác sĩ Lê đình Thám. Nghề tay trái lúc
đó là Tốc ký viên nghiệp dư, viết bài hay viết kinh do Ông Thám đọc
để hiệu đính lại và cho đăng trên báo Viên Âm. Tiền kiếm được do dạy
học và viết bài cho báo. Lúc đó, đời sống thật lãng mạn vô cùng.
Ban đêm, còn gì sung sướng bằng, nghêu ngao giữa giòng Hương Giang lững
lờ, cho thuyền trôi về Cồn Hến rủ vài đứa em cùng đoàn Hướng đạo
đi ngược giòng nước rong chơi, hò hát trên sông, rồi ngủ thiếp trên
xuồng khi nào không hay. Có khi, xuồng neo trên Huế, dây neo đứt từ
hồi nào, xuồng nhẹ nhàng trôi qua Cồn Hến, đến một nơi nào xa lạ,
sáng ngủ đậy mới hay, anh lại phải chèo ngược lên Huế. Cũng nhờ
chiếc xuồng đó mà ngày ngày anh Lừng chèo lên Bến Ngự làm việc
kiếm tiền, trưa chèo về dạy mấy em nhỏ. Các em nhỏ nầy là con nhà
nghèo, con của giới cu ly xe kéo, của giới bán hàng rong, ngủ đường
ngủ chợ, cù bơ cù bấc, nghèo đói. Anh đã dạy cho các cháu học, đặt
bài hát tiếng Việt cho các cháu ca hát vào những đêm trăng. Tôi có
nhắc cho anh Lừng biết rằng khi tôi còn nhỏ có học với nhạc sĩ Ngô
Ganh và nhạc sĩ Lê Cao Phan. Bài hát đến nay tôi vẫn còn thuộc nằm
lòng: "Con chuột cắp trứng đi không biết làm sao kéo đi, liền
gọi Chú khác vô, Chú kia bày mưu tức thì. Anh nằm ngữa bốn chân, anh
lo ghì ôm trứng đi. Tôi thì kéo cái đuôi, kéo anh về hang tức
thì" do Nhạc sĩ Lê Cao Phan sáng tác cho lũ con nít chúng tôi hát
đã có từ lâu lắm, tại sao không dùng những bài hát như thế mà anh
phải đặt ra? Anh cho biết lúc anh còn ở Huế, hồi 1937, 38 không có ai
viết nhạc cho thiếu nhi. Ông Lê Cao Phan hồi đó chưa viết nhạc. Liền
đó, anh kể cho tôi một chuyệân vui về nhạc sĩ Ngô Ganh, dạy nhạc lúc
tôi còn ở bậc tiểu học, là bạn thân của anh Lừng sau những năm 38,
39. Ông Ganh lãnh dạy cho một trường tư ở Hội An của Ông Võ Sằn.
Chánh quyền Hội An hồi đó cho là "anh" Ngô Ganh dạy trường
"Vô Sản". Trường nầy bị đóng cửa, Ông Ganh về lại Huế, sau
làm Giám Ðốc Ðài Phát Thanh Huế. Chính vì nghe những đứa nhỏ trong
xóm ở Ðập Ðá đêm nào cũng hát, mà nghêu ngao những tiếng Tây
không ra Tây, tiếng Việt không ra Việt, nên anh Lừng mới lấy bài
hát Tây đặt lời Việt đạy cho chúng hát. Anh Lừng còn làm một mái
nhà nhỏ để dạy cho các em con nhà có tiền, lấy tiền đó rủ nhau đi
cắm trại, lấy thế làm vui. Khi tôi đang viết đến đây thì ngẫu nhiên
vô cùng anh Lừng lại gửi cho tôi thêm một điện thư khác cũng nói
thêm về các em nhỏ nhà nghèo. Anh viết thêm, lúc anh đang lập đoàn
trẻ nhà nghèo, dù có tiền đi dạy, vẫn thấy thiếu thốn tiền bạc,
nhất là không có đủ lều để anh em ngủ đêm khi đi trại. Anh bèn viết
thư ra Hà Nội cho Nhà Sách Nhất Nam Thư Quán bán bản quyền một cuốn
truyện nói về Khoa học Thần bí do anh dịch từ Pháp văn với giá 8
ngàn đồng. Sồ tiền 8 ngàn đồng lúc đó to lắm vì một lon sữa bò gạo
gía chỉ 1 xu mà thôi. Thế là anh cong lưng dịch trong vòng 8 ngày, gởi
ra cho họ in, với biệt hiệu là Linh Sơn. Nhận được tiền, một phần anh
gửi ra Hội An cho mấy người em, một phần sắm nồi nêu soong chảo và
nhất là làm cái lều bằng đệm buồm cho các em đi chơi có chỗ ngủ lại
đêm. Anh nghĩ rằng anh là người đầu tiên lấy đệm buồm bằng lá buông
may thành lều, tuy nặng nhưng có còn hơn không. Lúc đó, anh còn viết
cho báo Thế Giới ở ngoài Bắc. Anh cho biết nói là viết báo, nhưng
thực ra là dịch từ những bài trong báo Pioneer của Pháp để gửi đăng.
Anh nhận định rằng, phía tả phái, hay phía Cộng sản, họ không chịu
lốùi giáo dục của Hướng đạo vì họ cho là sản phẫm của đế quốc do
một ông tướng người Anh là Baden Powell lập ra để trừ dân Zoulou. Họ
lập ra đoàn Pioneer có nghĩa là mở đường khai lối, như Ðoàn Thiếu
niên, Thanh niên Tiền phong bây giờ ở Việt nam. Cùng lúc đó, trong
Nam, có tờ báo Khoa học Thần bí do Ông Bùi Thiên Lương làm chủ bút,
mời anh hợp tác. Tòa soạn nhận được ảnh của anh Lừng gửi vô Saigon
để làm Thẻ Báo Chí (carte de presse) họ thật không ngờ người họ mời
hợp tác chỉ là "một thằng con nít nhỏ xíu". Thật ra, anh chỉ
dịch những sách có sẵn trong tủ sách gia đình. Viết về Lễ Nam Giao,
anh có đến tận nơi để nghiên cứu. Còn những bài viết về các lăng
tẫm ở Huế thì anh dịch từ các tạp chí của Pháp như Bulletin des Amis du
Vieux Hue (Tập san của những người bạn của Huế xưa), rồi còn dựa theo
các bài viết còn vẽ thêm các hình vẽ, thế là trong Nam cho là lạ
nên cho đăng ì xèo. Trong đám trẻ con trong đoàn nhà nghèo, cũng có
con em nhà có tiền theo học với anh Lừng. Trong đó có Ông Nguyễn văn
Thiện sau nầy là Chuẩn tướng Tư lệnh Thiết Giáp thời Ông Diệm. Tuy
là tướng, nhưng mỗi khi ra Phan Thiết đều có đến thăm anh Lừng. Về
sau, tướng Thiện đi trên phi cơ hai chỗ ngồi, bị mất tích rất bí mật ở
ngoài biển. Còn trong Gia đình Phật Hóa Phổ có Ông Nguyễn Ngọc Loan,
sau nầy là tướng mà anh Lừng cho là "ngang bướng", có dính
líu tấm hình được giải Pullitzer chụp được trong Trận Mậu thân, đã qua
đời. Về sau, lụt trôi mất chiếc xuồng, anh Lừng phải đi bộ từ Ðập
Ðá lên đến Bến Ngự để làm việc. Gia đình Bác sĩ Thám thấy anh Lừng
sống lang bạt, bảo về sống chung trong gia đình. Trong gia đình Ông
Thám, chiều nào cũng tụng kinh. Anh em trong nhà và các em nhỏ trong
xóm cũng đến tụng kinh buổi chiều. Nhân dịp nầy anh Lừng bàn với con
Ông Thám thành lập một đoàn hướng đạo rồi gọi là Hướng đạo Phật
tử. Ý kiến nầy được Ông Thám chấp thuận nhưng thay vì lấy tên Ðoàn
Hướng Ðạo Phật Tử thì lấy tên là Gia đình Phật Hóa Phổ. Nếu lập
Ðoàn Hướng đạo thì phải xin phép chánh quyền thêm rắc rối, chi bằng
cứ coi là đoàn của gia đình, phổ biến Phật học trong phạm vi gia đình
thôi. Từ đó, Gia đình Phật Hóa Phổ Tâm Minh (Tâm Minh là pháp danh
của Ông Thám) hoạt động, và Gia đình Phật Hóa Phổ là một tổ chức
Gia đình Phật tử đầu tiên vậy. Gia đình Phật Hóa Phổ có mục đích phổ
biến đạo Phật, dạy cho các em nhỏ biết lòng tin chân chánh, theo đạo
đúng đắn, không bị mê tín dị đoan làm mê lầm. Lần lượt các nơi khác
ở Huế cũng thành lập theo mô thức đó, chẳng hạn như gia đình Ông
Tôn thất Tùng ở Bến Ngự do Ông Ðinh văn Nam mà anh Lừng lúc đó gọi
là anh Nam (nay là Hòa Thượng Thích Minh Châu) phụ trách, ở Vỹ Dạ có
gia đình Ông Nguyễn khoa Toàn, ở Bến Ngự còn có gia đình Ông Nghè
Khác.ïChủ trương lúc đó là ngăn cấm không cho các em nói tiếng Việt
pha tiếng Pháp, hễ nói tiếng Pháp thì phải nói nguyên câu. Những
lần đi cắm trại gần Nam Giao như Tứ Tây, Trúc Lâm, Tây Thiên, hay
trong các rừng Thông tại Huế, anh Lừng làm Trại trưởng. Khi về nhà
anh ta viết một bài tả lại cuộc cắm trại đó và đăng trên báo. Khi
Ðoàn Phật Hóa Phổ đã đông, anh Lừng tự hỏi tại sao mình không có
một huy hiệu đeo trước ngực như anh em bên Hướng đạo khi làm lễ tuyên
thệ có đeo huy hiệu Hoa Huệ (fleur de Lis). Anh Lừng bèn tự ý vẽ ra,
không bắt chước của ai, cũng không phải "do nằm mộng" thấy
hoa sen, miễn sao đơn sơ và đẹp. Sau nầy có Ðoàn Phật Học Ðức Dục,
gồm những vị có học thức mà muốn tìm hiểu thêm Phật giáo, cũng dùng
huy hiệu hoa sen nầy nhưng thêm mấy chữ viết tắt PHÐD ở phía trên.
Ðoàn Phật Học Ðức Dục gồm các em lớn tuổi hơn các em trong Gia đình
Phật Hóa Phổ, do Bác sĩ Thám dắt dìu nhằm đào tạo thanh niên trí
thức làm rường cột cho việc hoằng dương chánh pháp. Nhưng anh Lừng
không ngờ sau khi rời khỏi Huế vào Nam làm Kiểm lâm, huy hiệu hoa sen
lại được phổ biến khắp toàn quốc, nhất là miền Trung. Từ chùa
chiền, đình miếu, hay trụ sở các Hội Phật học, cho đến các quan tài
cũng trang trí hình hoa sen đó. Cũng trong thời gian trên, bài hát Dây
Thân Ái ra đời cùng với nhiều bài hát khác. Sau nầy, anh Lừng cho
rằng việc anh vẽ huy hiệu hoa sen, trên năm cánh, dưới ba cánh có
liên hệ đến vấn đề nhân quả và nhân duyên. Tôi ngạc nhiên tại sao
liên hệ hai vấn đề nầy thì được anh giải thích coi bộ rất là lý
thú. Anh nghĩ rằng kiếp trước anh là một người thợ đục đá (sculpture)
trong một ngôi đền thờ nào đó bên Ấn Ðộ. Lý do là cách đây không
lâu, khi xem truyền hình, anh Lừng thấy trong một cuộc bầu cử ở Ấn
Ðộ, các đảng viên Ðảng BJP (Bharatiya Janata Party) có nâng cao và
phất cờ có huy hiệu hoa sen của Ðảng BJP, cũng trên năm cánh, dưới
ba cánh tương tự như hoa sen mà anh Lừng đã vẽ khoảng năm 1939, 40.
Theo anh Lừng, đây là một sự trùng hợp lạ lùng. Nhớ lại lúc anh
đang làm kiểm lâm, có một người Ấn Ðộ tự nhiên vào nhà tình nguyện
coi bói toán cho anh. Anh vốn không tin và không thích bói toán nhưng
Ông ấy đã nói thì cũng nghe xem sao. Ông thầy bói bảo rằng kiếp
trước của anh Lừng là một Hoàng tử Ấn Ðộ, có ngôi chùa, sau phạm
lỗi, mới sanh anh Lừng ra tại Việt nam. Ðối với anh Lừng, đó là
chuyện tào lao, nhưng anh tự nghĩ, trong số 7 người con của anh, có 3
người (2 người hiện ở San Jose, 1 người ở Vũng Tàu) sao giống Ấn Ðộ
vô cùng, cũng mắt to, có quầng đen bao quanh mắt, mũi dọc dừa, nét
mặt Ấn Ðộ hoàn toàn.
Nhân tôi đề cập đến tình
hình anh em cựu tù nhân chính trị qua Mỹ theo diện H.O. thì mới biết anh
Lừng cũng là một chiến hữu, đồng màu cờ sắc áo. Anh bị động viên
vào quân trường Thủ Ðức vào một trong những khoá đầu tiên. Vì là
khóa phụ, toàn là bộ binh, không như các chính khóa có việc chọn
lựa các binh chủng như Pháo binh, Truyền tin, Quân nhu, Thiết
giáp.Trọn khóa phụ nầy, gồm 3 Ðại đội, đều phải đi tác chiến. Một
số người có năng khiếu huấn luyện, như anh Lừng, thì được cho đi học
Huấn luyện viên tác chiến (combat) trong ba tháng ở Vũng Tàu. Ở đây
cũng có người Pháp dạy và tân binh thì do các nơi đưa đến cho đồng
khóa của anh Lừng thực tập huấn luyện. Anh Lừng sáng tạo ra lối dạy
lính cho dễ nhớù là dạy theo cách anh làm thơ hay đúng hơn là làm vè,
do đó anh được xếp hạng Sĩ quan ưu tú (officer de valeur) rồi cùng khóa
trở ra Suối Dầu Nha Trang, ở trong các "chuồng bò"ø, chờ
ngày Trường Biệt Ðộng Quân Ðồng Ðế xây dựng xong rồi ra đó dạy.
Suối Dầu là nơi ở tạm của Sĩ quan bổ nhiệm đến Trường Ðồng Ðế. Các
anh em khác thì chờ, nhưng riêng anh Lừng thì được cử phụ trách Phòng
Họa, vẽ các tranh ảnh lớn làm trợ huấn cụ như các cách tập cho tân
binh, cơ bản thao diễn, động tác thể dục, các bộ phận khí cụ như
súng, lựu đạn..Họ lựa anh Lừng chỉ huy Phòng nầy vì anh có khiếu vẽ.
Vả lại, trong đời dân sự trước đó, anh Lừng có học hàm thụ Trường
École ABC de Dessin ở Paris, nên có chút kiến thức về hội họa. Lúc
đó, ở Suối Dầu không có tuyển mộ tân binh nào cả. Trong khoảng
thời gian 1951, 52, tuy là Huấn luyện viên tác chiến, anh lại được cử
làm Chánh Sở Hành Chánh gồm các phòng quân vụ, tài chánh, vật
liệu, quân xa cho Trường Biệt Ðộng Ðội và Thể Dục là Trường dạy cho
cấp Trung sĩ. Mỗi Phòng có một Thiếu úy đồng khóa phụ trách. Trường
nầy, khi đồng khóa của anh mới đến, chỉ có hai dãy là nhà xây dùng
làm nơi làm việc và văn phòng. Còn chỗ ở của Sĩ quan và anh em binh
lính đều là nhà tranh, dần dần mới xây nhà ngói. Chính anh đã vẽ cho
Trường Biệt Ðộng Quân huy hiệu lưỡi kiếm nằm trên đầu con báo đen.
Thời gian nầy, tánh anh anh Lừng trọng nguyên tắc quân đội (réglo)
nên anh em ít ưa nhưng ngược lại đối với anh em lính tráng cấp dưới thì
rất thương. Hồøi đó, mỗi Sĩ quan đều có một người lính phục vụ. Ai
cũng bắt lính xách nước vô phòng cho họ tắm, còn anh Lừng thì ra tắm
chung với anh em lính ở giếng công cộng. Khi giải ngũ về làm kiểm
lâm ở Phan Thiết, một lần nọ, có một số anh em ở Ðồng Ðế đi công
tác ở Bình Thuận, gồm một Tiểu đội. Họ tìm dến nhà anh Lừng, sắp
hàng dài, có một Trung Úy người Huế chỉ huy anh em, nào nghiêm, nào
chào đúng lễ nghi quân cách. Họ mời anh Lừng ra và trình diện y hệt
như lúc còn quân trường, đến thăm Trung úy. Thế rồi, anh Lừng cãm
động quá, cũng đi bắt tay từng người như lúc còn trong quân trường,
lại là dịp cho cuốn phim dĩ vãng đời quân ngũ trở về trong trí nhớ.
Ðây là câu chuyện do anh Lừng kể nhằm khéo léo trả lời trực tiếp
một điện thư của tôi hỏi về cấp bậc cuối cùng trong quân ngũ của
anh trước khi giải ngũ.
Lúc tốt nghiệp ở Thủ
Ðức, người bạn thân của anh là "anh" Phạm Kim Ðỉnh trước 75
là Trung tá phục vụ ở Bộ Quốc Phòng, nay ở Pháp, gắn huy hiệu
Thiếu úy cho nhau khi ra Trường. Ông Ðỉnh tặng cho anh Lừng một bài thơ
như sau:
LÊ gót sắt trên đồi dưới ruộng,
LỪNG tiếng tăm trong mến ngoài thương.
Thân tặng anh nhớ những buổi chiều
Mến người bạn quý nhìn đời xa xa.
Chính người bạn thân nầy
đã góp bàn tay giúp cho anh Lừng trong việc xin giải ngũ, thỏa mãn
được mong ước của mình "là một người cha tốt, người chồng
tốt", là không bao giờ muốn sống xa vơ ïcon, đồâng thời tìm cơ
hội để thoát khỏi bộ áo ka-ki, "sợ chết vì chiến tranh". Anh
Lừng ở trong quân đội trên hai năm thì giải ngũ.
Anh Lừng hiện nay cùng gia
đình ở Gia Ðịnh nhưng dưới nhãn quan của anh, anh đã xuất gia. Bởi vì
xuất gia là gì, theo anh, là ra khỏi ngôi nhà phiền não, chớ không
có gì khác. Bỏ qua những gì canh cánh bên lòng, nhất là những việc trước
mắt, không thể hay chưa thể thực hiện được. Việc gì có thể bỏ qua
được cho nhẹ nhàng thì bỏ qua đi: không trách ai, giận ai, phiền ai
cả. Giữ tấm lòng thanh thản nhẹ nhàng, quên đi những ân oán cũ, hay
những phiền não cũ mà hiện nay thấy là vô ích. Nói chung, tránh
phiền não. Chính nhờ có computer, anh Lừng có công việc làm hằng
ngày khá bận rộn: soạn kinh, trả lời và viết thư gởi bạn bè. Việc
soạn kinh của anh là gom những ý chính (phần nhiều rất khó hiểu),
tóm lại cho dễ hiểu nhưng vẫn giữ ý chính và viết lại cho những
người mới học. Anh in ra từng đợt độ 9, 10 cuốn gởi cho những Chùa
nghèo thiếu kinh ở miền Trung, và biếu những ai có đạo tâm muốn học
hỏi. Anh có tâm nguyện làm 9 cuốn kinh thường dùng nhất tại Việt
nam, nay đã làm xong 6 cuốn và đang nguyện Tam Bảo giúp anh hoàn thành
Phật sự nầy. Anh chỉ làm việc buổi sáng vì mắt anh bị cườm (cataract),
phải dùng thuốc làm cho con ngươi nở to ra mới đọc được. Anh em chu’ng
tôi khuyên anh đi mổ mắt nhưng anh nghĩ đã lớn tuổài rồi, vả lại tại
Việt nam số người đi mổ mắt như vậy nhiều người bị lại nên anh để
liều.
Anh Lừng kể những câu chuyện
nầy cho tôi biết và tôi lại muốn kể lại cho các bạn đồng nghiệp
cùng biết."
Ðoạn trích trên đây do tôi
viết trước khi tôi đọc cuốn sách dày về Gia Ðình Phật Tử Việt Nam -
50 năm Xây Dựng. Tôi có liên lạc ngay với Ông Lê Quang Linh ở San
Jose, là một thành viên trong Ban Ðiều Hợp Trung Ương GÐPT Hải Ngoại,
có tên ghi sau sách để đề cập về tác giả của huy hiệu Hoa Sen và
bài ca Dây Thân Ái. Tối hôm đó, Ông Linh điện thoại báo cho tôi
biết đã tìm được tài liệu cho biết tác giả là Ông Lê Lừng, người
mà tôi vừa mới kể chuyện. Chị Trương thị Châu, xưa kia hoạt động ở
Khuôn Hội Vỉnh Nhơn Thành Nội Huế, là nơi tôi được gắn huy hiệu Hoa
Sen và đã từng cầm tay thành vòng tròn hát bài Dây Thân Ái khi còn
nhỏ, cũng mong muốn được biết vài nét về tác gỉa mà xưa nay không
nghe ai nhắc đến. Hy vọng lần tái bản sau sẽ có in hình Ông Lê Lừng
bên cạnh bài ca và huy hiệu.
Tâm Hảo HỒ PHÙNG
11/9/98 Olympia, WA