KINH BÁO ÂN

Bản dịch thơ của HỔ ĐẮC DUY

Theo bản dịch cổ của Thượng tọa TRÍ QUANG

 

Tôi nghe phật dạy kinh này
Thời gian lúc đó khi Ngài đến đây
Nước Xá Vệ thật tuyệt vời
Kỳ Hoàn tịnh xá làm nơi giảng đường
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn
Ngài cùng đại chúng lên đường du nam
Xương khô một đống giữa đàng
Thoạt nhìn Đức Phật vô vàn xót thương
Chấp tay qùy lạy bộ xương
Vô cùng cung kính nghiêm trang lạ thường
Bấy giờ tôn giả A Nan
Lựa lời bạch Phật hỏi han sự tình :
Xương khô là loại giả hình
Tại sao Ngài lại cúi mình làm chi ?
Xin Ngài mỡ lượng từ bi
Xin vì đại chúng cho nghe rõ ràng
* Hạnh phươc thay,ông A Nan
Vì ông ta sẽ chỉ đường vô minh
Xương kia là vật giả hình
Biết đâu kiếp trươc là hình mẹ cha
Biết đâu xương ấy lại là
Cội nguồn tông tổ ôngï cha của mình
Nghe đây phân biệt cho rành
Xương nào trắng nặng là hình đàn ông
Xương nào nhẹ bốc như bông
Đàn bà loại ấy lại cùng màu đen
Đàn ông khi sống năng chuyên
Tinh tu phạm hạnh văn thuyền quán đa
Xương đen lao khổ đàn bà
Bởi chưng hao tổn chẳng qua sinh thành
A Nan nghe nói hoảng kinh :
* Làm sao báo đáp lại tình mẹ cha
* Này ông nghe rõ lời ta
Vì đâu mẹ khổ khi bà mang thai
Một tháng lúc mới đậu thai
Như sương trên cỏ trên đài mong manh
Tháng hai như sữa tạo thành
Tháng ba nhục huyết đóng quanh bên ngoài
Tháng tư đã tạo dáng ngừơi
Tháng năm mới có đầu rồi chân tay
Tháng sáu lắm sự đổi thay
Mắt tai mũi miệng tựơng khai dần dần
Tháng bảy da dẻ xương gân
Tháng tám lục phủ đã mang hình ngừơi
Tháng chín cho đến tháng mưòi
Nếu là hiếu thuận tay xuôi lọt lòng
Nếu là ngỗ nghịch lông bông
Thì cào thì cấu nát lòng mẫu thân
Cho nên sinh đẻ được thân
Là may mắn lắm bội phần phước đây
Mười điều hảy nhớ từ nay
Một là ân giử mang thai thân này
Cưu mang chín tháng mười ngày
Nặng như đội đá chống trời chẳng than
Mẹ đau thân thể chẳng màng
Áo quần không sửa , diểm trang kể gì
Hai ân sinh sản nhớ ghi
Gần lúc sản nạn như chì đeo chân
Ngày ngày ngắn tợ hoàng hôn
Đêm đêm thức giấc lệ tuôn khổ sầu
Nghĩ thần chết sợ xiết bao
Không dung tánh mạng biết đâu chẳng chừa
Ba ân sinh đươc quên lo
Nghe con tròn triạ tựa hồ quên khi
Khi sinh đẻ máu dầm dề
Ruột gan đau đớn hồn thì mê man
Buồn vui đau khổ can trường
Mẫu thân hứng chịu muôn phần vì con
Bốn ân nuốt đắng , nhổ ngon
Tình thương cha mẹ như non trên ngàn
Nhổ ngon nuốt đắng nào than
Miễn con no ấm mẹ nhường mẹ lo
Năm ân nằm ướt nhường khô
Mẹ nằm chỗ ướt mẹ chừa chỗ khô
Chăm con quên ngủ quên giờ
Mong con yên giấc mẹ lo chỗ nằm
Sáu ân bú nớm , nuôi ăn
Mẹ hiền hơn đất ơn thâm cao dày
Không hiềm chân mất què tay
Không mắt không mũi chẳng may tật nguyền
Con sinh từ mẹ y nguyên
Mẹ không toan tính cha nghiêm đức người
Bảy ân tắm rửa chăm nuôi
Áo quần ấm áp mẹ thời lo toan
Chỉ mong con được an toàn
Mẹ không than thở, thở than đoạn trường
Tám ân xa cách nhớ thương
Chết mà từ biệt dễ thường khó khăn
Sống mà ly biệt cách ngăn
Càng thêm thương nhớ đêm nằm không yên
Con đi xa cách nỗi niềm
Ngày thì tưởng nhớ giữa đêm lại buồn
Khóc như vượn mẹ khóc con
Hình con tơ tưởng mỏi mòn nhớ luôn
Chín ân làm ác vì con
Muốn con no ấm mẹ luôn dãi dầu
Nuôi con khôn lớn bao lâu
Mẹ không từ chối mặc dù khó khăn
Việc ác là phải can ngăn
Vì con mẹ phải cắn răng thiệt thòi
Mười ân thương mến trọn đời
Cho con tất cả chẳng thời giấu riêng
Con thì đã tám mươi niên
Mà trong lòng mẹ chỉ xem lên mười
Thương con thương đến cuối đời
Lòng cha như dải sông dài núi cao
Này A Nan, nhớ làm đầu
Lời ta đáng để về sau mà dùng
Chúng sinh khởi đã vô chung
Cái ơn dưỡng dục vô cùng lớn lao
Phàm người tâm trí lao đao
Hôn mê không biết người nào mẹ cha
Vong ân bội nghĩa quên là
Ơn cha đức me ïïthiết tha với mình
Quên ơn với đấng sinh thành
Động lòng bất hiếu biết mình mà thôi
Từ mẫu trong lúc mang thai
Bội phần đau đớn đứng ngồi không yên
Lúc sinh đất lở trời nghiêng
Cơn đau xé ruột mẹ hiền khổ thân
Nuôi cho khôn lớn âm thầm
Kể chi mệt nhọc aüm bồng con thơ
Đến khi khôn lớn lại lo
Hôn nhân sản nghiệp không từ đắng cay
Công cha nghĩa mẹ ơn dày
Đáng ra phải nhớ thì nay hỗn hào
Nói với mẹ chẳng ra sao
Phùng mang trợn mắt búa dao lắm lời
Lại còn hung hản dễ ngươi
Anh em đánh đập lôi thôi trong nhà
Tình chú bác chẳng ai xa
Bà con cốt nhục như là người dưng
Thầy có dạy cũng như không
Lời khuyên cha mẹï chẳng cần lắng nghe
Anh em cố ý nhăn nhe
Vào nhà chẳng hỏi , đi về chẳng thưa
Như phường đá cá lăn dưa
Nói năng thô bỉ chẳng chừa một ai
Bỏ bạn tốt chẳng thèm chơi
Hùa theo kẻ xấu làm người giao du
Bịt mắt làm kẻ đui mù
Thoát ly nhà cửa giang hồ mông lung
Tính thích chinh chiến xâm lăng
Tù đày không bị cũng bằng phơi thây
Đến khi con chết mới hay
Khóc thương sầu khổ mắt cay đến lòa
Bi ai thành bịnh mẹ cha
Có khi vì khổ mà ra chết buồn
Thấy con mê tín dị đoan
Không lo học tập lại toan bỏ nghề
Thấy cờ bạc lại say mê
Hoang đàng phóng túng mọi bề chẳng hay
Để cho cha mẹ tội lây
Bà con mang họa chẳng hay tí nào
Còn cha mẹ chẳng biết sao
Mẹ đau , cha khổ lao đao chẳng màng
Chẳng cần thăm viếng hỏi han
Nhìn cha thấy mẹ như dường khách xa
Chẳng may gặp cảnh như là
Trong cơn túng bấn mẹ cha ăn mày
Mặc cho bão táp gió giày
Dửng dưng con chẳng không hay biết gì
Hoặc là giấu mặt quay đi
Làm như không thấy không nghe biết gì
Hoặc là mắt thấy tai nghe
Biết cha đói rách khinh khi thẹn thùng
Thẹn thùng vì mẹ cong lưng
Thân cha xấu xí bần cùng ốm o
Thẹn thùng vì nghĩ rằng cho
Cha không xứng đáng ngu ngơ mẹ già
Nghĩ rằng chúng bạn cười ta
Sợ người đàm tiếu mẹ cha như vầy
Vợ con phục dịch cù đày
Làm thân trâu ngựa chuyện này chuyện kia
Còn cha mẹ chẳng mấy khi
Riêng phần thê thiếp hể thì bảo sai
Cong lưng gánh chịu kê vai
Tuân theo răm rắp không lời từ nan
Còn cha mẹ có nói năng
Không thèm đếm xỉa hung hăng lầm lì
Coi chồng là chúa con thì là vua
Còn cha mẹ hỏi không thưa
Hoang đàng bất hiếu muối dưa chợ chiều
Chồng thì mê mệt bao nhiêu
Xả thân lăn lóc làm liều vì con
Còn cha mẹ có héo mòn
Chẳng cần tưởng nhớ chẳng buồn viếng thăm
Ân đức cha mẹ vô vàn
Tội con bất hiếu không lường được đâu
Đó là chỉ mới làm đầu
Còn bao nhiêu nữa những điều vô ơn
Đại chúng nghe thấy điếng hồn
Tâm tư rúng động toàn thân lặng người
Than rằng:trong mỗi chúng tôi
Sai lầm tội lỗi đời đời khó quên
Mê mờ như kẻ đi đêm
Ngày nay mới rõ cho nên bạch Ngài
Mong nhờ đức Phật Như Lai
Từ bi gia hộ giải bày chúng con

Làm sao báo đáp được ơn sinh thành
Nghe đây, ta sẽ thuyết minh
Giả như nghiền thịt da mình đến xương
Giả như máu đổ xương tan
Cũng không báo đáp được ơn sinh thành
Giả như cắt thịt của mình
Dâng cho cha mẹ trong cơn đói nghèo
Giả như vì mẹ thân yêu
Trích tròng con mắt lấy dao băm người
Cũng không trả nổi ơn này
Cũng không trả nổi ơn dày song thân
Giả như vì mẹ đốt thân
Làm đèn hiến cúng bốn phương đạo tràng
Cũng không báo đáp hồng ân
Của cha của mẹ đựơc ơn sinh thành
Đại chúng nghe nói đồng thanh
Bạch ngài như vậy thì mình làm sao
Phật dạy : muốn báo ân cao
Ra sức cung kính chép sao kinh này
Ra sức tu học cho hay
Thành tâm trì tụng mỗi ngày mỗi đêm
Thực hành sám hối năng chuyên
Khuyến khích cha mẹ của mình định tâm
Khuyến hóa cha mẹ cho chăm
Thật hành chánh pháp để tâm Bồ đề
Tâm đừng vọng động si mê
Duy trì các hạnh phải vì mẹ cha
Làm bố thí,hạnh lợi tha
Làm y như vậy mới là báo ân
Aân đức cha mẹ cao ngần
Tội báo bất hiếu cũng ngần ấy thôi
Cho nên nghịch bội với người
Không gì so sánh bằng lời nói đâu
Lần lừa tội lại thêm sâu
Vì ân báo đáp chép sao kinh này
Những ai rao giảng chỉ bày
Những ai quảng bá kinh này đến tay
Cùng nhau ấn tống càng hay
Để cho hiếu đạo nhiều người cùng nghe
Nếu làm được việc này thì
Côïng thêm công đức hộ trì Như lai
Nên vì hạnh phước tương lai
Thì chắc phước đức không ai được bằng
Làm cho cha mẹ dần dần
Sớm mau giải thoát khỏi vòng tử sinh
Nghe lời Phật dạy quang minh
Nhất tâm phát nguyện chúng sinh theo ngài
Cho dầu thịt nát xương rơi
Cho dầu sắt nóng để nơi đỉnh đầuNguyện rằng từ trước về sau
Nguyện không trái huấn lời nào Thế tôn
Bấy giờ tôn giả A Nan
Quì chân bạch Phật nghiêm trang mọi bề

 

Kinh này nên gọi là gì ?
Phụng trì nghi thức xin vì chúng con
Hạnh phước thay ông A Nan
Kinh này tên gọi Báo Ân từ rày
Tỳ kheo, đại chúng mừng thay
Phụng hành hoan hỷ theo lời Như lai

 

Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật
Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật
( Lạy 3 lạy )

Bản dịch thơ của HỔ ĐẮC DUY
Theo bản dịch cổ của Thượng tọa TRÍ QUANG

Gia đình phật tử ...........................................
thành kính ấn tống ......... bản

CÁC PHẬT TỬ ĐUỢC TỰ DO ẤN TỐNG VÀ PHỒ BIẾN KHÔNG HẠN CHẾ