Bs Hồ Ðắc
Duy
q Chuyện Tình của Nhã Lang và Cảo Nương
xãy ra như thế nào ?
q Bộ tướng của Ðào Lang Vương vơi mưu đồ
thoán đoạt đất nước Vạn Xuân
q Tai sao Dạ Trạch Vương bị chết
|
Ở Từ Liêm cách Hà Nội non chừng 10 cây số ,
hiên nay còn có một đền thờ tên là Bát Lang còn gọi la Bát lang Thần , tương
truyền rằng đó là đền lập ra để thờ Nhả lang . Vậy nhận vật lịch
sử này là ai ? Trong Ðại Việt Sử Toàn Thư trang 184 chép rằng
: "..Canh
Dần (570) Nhã Lang bảo vợ rằng : "Trước hai vua của chúng ta cừu
thù nhau, nay là thông gia chẳng cũng hay lắm ư ! Nhưng cha nàng có
thuật gì mà lui được quân của cha tôi ?" . Cảo Nương không biết ý
chồng, bí mật lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang mưu ngầm
tráo đỗi móng rồng rồi bảo riêng với Cảo Nương : "Tôi nghĩ ơn sâu
của cha mẹ nặng bằng trời đất, vợ chồng ta hòa nhã yêu qúy nhau
không nỡ xa cách. Nhưng tôi phải tạm dứt tình về thăm cha mẹ".Nhã
lang về cùng bàn mưu với cha đánh úp vua chiếm lấy nuớc.." Nhã Lang là con Hậu Lý Nam Ðế hay còn gọi là
Lý Phật tử , ông ta là một bộ tướng của Ðào Lang Vương anh vua Lý
Nam Ðế Trong
Khâm định Việt sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán Triều
Nguyễn trang 175 chép chuyện này
như sau: " ...Trước kia, Lý Bôn
lánh vào ở động Khuất Lao, anh ruột Lý Bôn là Lý Thiên Bảo cùng
với viên tướng cùng họ là Lý Phật Tử rút vào Cửu Chân. Bá Tiên
đuổi đánh, Thiên Bảo thua, mới thu thập tàn quân chạy sang vùng
người Di, Lạo ở biên giới Ai Lao. Thiên Bảo thấy động Dã Năng ở
đầu nguồn sông Ðào giang là chỗ đất bằng phẳng, màu mỡ bèn đắp
thành ở đấy, nhân tên đất đặt hiệu nước, được dân chúng tôn làm
chúa xưng là Ðào lang Vương. Thiên Bảo mất ở động Dã
Năng, không con thừa tự, mọi người mới suy tôn Lý Phật Tử lên
nối ngôi thay để thống suất quân và dân. Ðất Dã Năng thuộc địa phân Ai Lao , Theo sách
Thái Bình Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử nhà Tống : "Nước Ai Lao ,
khoảng giữa niên hiệu Hán Vĩnh Bình (58- 75) thuộc trong khu vực nhà
Hán. Nhà hán lấy đất của ho đặt ra hai huyện Ai Lao va Bác Nam ,
họp lại làm quận Vĩnh Xương , sách ấy chua tức là quận Vân Nam bây
giờ . Sau năm 741 đời Ðuòng bị Nam Chiếu chiềm giữ .Theo Dư Ðịa Chí
của Nguyễn Trải nhận xét ;
". Bộ lạc Ai Lao nhiều lắm , đâu đâu cũng có gọi là Lào" Cảo Nương là con gái cưng của Dạ Trạch Vương
Triệu Quang Phục . Dạ Trạch Vươnng tên húy là Quang
Phục,con Triệu Túc người huyện Chu Diên, uy tráng dũng liệt theo Nam
Ðế đánh giặc có công, được trao chức Tả tướng quân. Nam đế mất,
bèn xưng vương đóng đô ở Long Biên sau dời sang Vũ Ninh. Trong phần Ngoại kỷ khi viết về nhà Tiền Lý
, các sử gia đã mô tà cuộc chiến đấu hào hùng của Ða Trạch Vương
như sau : " ..Ðinh Mão,Thiên Ðức năm thứ tư
(547). Mùa xuân 1 tháng giêng nhật thực. Triệu Quang Phục cầm cự
với Trần bà Tiên, liệu thế không nổi lui về đầm Dạ Trạch. Ðầm
này ở huyện Châu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um
tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao bốn mặt bùn lầy,
người ngựa khó đi, chỉ dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào mà lướt
đi trên cỏ nước mới đến được. Nếu không rất dễ bị lạc hoặc nhỡ
rơi xuống sẽ bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ địa thế, đem
hai vạn quân vào đóng trong đầm, ban ngày tuyệt không để lộ khói
lửa, ban đêm dùng thuyền độc mộc ra đánh quân Bá Tiên, giết và
bắt giặc rất nhiều, chiếm lương thực để làm kế lâu dài. Người
trong nước gọi Quang Phục là Dạ Trạch Vương. Gặp lúc nhà Lương có
loạn, Bá Tiên về, uỷ cho tì tướng Dương Sàn, bị Triệu Quang Phục
tung quân ra đánh. Sàn thua chết, quân Lương chạy về Bắc. Vua vào
thành Long Biên.." Từ nước Dã Năng ,Lý Phật Tử nhìn thấy Triệu
Quang phục đánh đuổi quân xâm lược
phương Bắc , thống nhầt đất nước , thu lấy kinh đô , khôi
phục lại nền độc lập cho dân tộc , được toàn dân tôn vinh đã khơi dây lòng tham nơi Lý Phật Tử
với mưu đồ đen tối muốn chiếm
lấy vị trí của Triệu Quang Phục , Lý Phật Tử kéo quân xuống phía đông đánh nhau ở Thái Bình với
Triệu Quang Phục 5 lần không
phân thắng bại, xin hòa. Quang Phục nghĩ Phật Tử cùng họ với tiên
vương không nỡ tuyệt tình, lấy châu Quân Thần làm địa giới chia cho
ở phía Tây, Phật tử mới dời đô sang ở Ô Diên. Năm 571, Phật Tử đánh úp,
lấy được nhà Triệu. Sử cũ chép : Trước kia,
giảng hòa với nhà Triệu, Phật Tử có cầu hôn cho con trai là Nhã
Lang. Việt Vương gả con gái là Cảo Nương và cho Nhã Lang ơ û rể. Nhã
Lang lấy rộm cái móng rồng trở về nước mưu với Phật Tử đánh úp
Triệu. Triệu Việt Vương thua vì móng rồng không có nữa, mới cùng
con gái là Cảo Nương chạy về phía Nam đến cửa biển Ðại Nha, hết
đường gieo mình xuống biển chết. Về
sau vua Tùy sai Lưu Phương làm Hành Quân Tổng Quản Dạo Giao Châu cât
binh sang đánh nước ta , Lý Phât Tử sợ quá xin hàng , Lưu Phương bắt
Phật Tử đem về Trung Quốc và Y chết tại đó Ngô Sĩ Liên cho rằng vua là kẻ hèn nhát Sử thần Nguyễn Nghiễm thì gọi vua là người
làm việc trộm cắp Còn Ngô thì sĩ thì cho Lý Phật Tử là người
ngu dại Bi kịch Nhã Lang và Cảo Nương xãy ra đúng 700
năm sau một bi kịch tương tự là chuyện theo vết lông ngỗng của Mỵ
Châu -Trọng Thủy trong thời An Dương Vương với Thành Cổ Loa Phần Ngoại kỷ của Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
trang 138 chép chuyện này như sau : " ...Tân Mão, năm thứ 48 (210
TCN)-Tần Thủy Hoàng 37- Mùa đông tháng 10, Tần Thủy Hoàng mất ở Sa
khâu, Nhâm Ngao và Triệu Ðà đem quân sang xâm lấn. Ðà đóng quân ở
núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua. An Dương Vương đem nỏ thần ra bắn, Ðà thua
chạy. Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang vì phạm
thổ thần nên bị bệnh, rút về. Ngao bảo Ðà rằng:"Nhà Tần sắp mất
dùng kế đánh Phán thì có thể dựng nước được". Ðà biết An Dương
Vương có nỏ thần không thể địch nổi,lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ
đến giảng hòa. An Dương Vương mừng bèn chia từ Bình Giang (nay là
sông Thiên Ðức huyện Ðông Ngàn) trở lên phía bắc thuộc quyền của
Ðà, trở về phía Nam thuộc quyền của vua. Ðà sai con là Trọng Thủy
vào hầu làm túc vệ cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng.
Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ rồi ngầm bẻ gẩt lẫy nỏ,
thay cáikhác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo vợ :"Ân tình vợ
chồng không thể quên nhau, nếu nhỡ hai nước không hòa, Nam Bắc
cách biệt, ta trở lại đây làm thế nào mà tìm thấy nàng". Mỵ Châu
nói : "Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi
đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu".
Trọng Thủy về báo cho Ðà biết. Ðà đem quân đến đánh. Vua không
biết lẫy nỏ dã mất ngồi đánh cời cười mà bảo : "Ðà không sợ nỏ
thần sao ?". Quân Ðà tiến đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gẩy
rồi. Vua thua chạy về Nam cùng Mỵ Châu trên ngựa. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo.
Vua đến bờ biển cùng đường gọi rùa vàng : "Mau đến cứu ta". Rùa vàng
nổi lên mắng rằng: "Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết
đi ?" Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu. Mỵ Châu khấn : "Trung tín trọn
tiết bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để thù nhục này".
Vua chém, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng, hóa
thành hạt minh châu. Vua cầm sừng tê văn dài 7 tấc xuống biển mà
đi. Trọng Thủy đuổi theo thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc ôm xác
đem về chôn ở Loa thành hóa làm đá ngọc. Trọng Thủy nhớ tiếc,
trở lại nơi Mỵ Châu tắm gội khi trước nhảy xuống giếng mà chết.
Người sau được hạt minh châu ở biển Ðông, lấy nước giếng ấy mà
rửa, sắc ngọc càng sáng hơn. Hai cuộc " hôn nhân chính trị" dẫn đến hai
biến cố cách nhau - một lần mất nước vào tay Triệu Ðà ( 210 TCN ),
một lần mất ngôi về dòng họ Lý Phật Tử ( 571 sau CN ) - trong lịch sử nước ta là chuyện có thật. Câu chuyện nỏ thần hay cái móng rồng dù
huyễn hoặc cũng là một cách lý giải việc bảo mật của hệ thống
an ninh quốc phòng của người xưa mà thôi. Ðáng thương cho những nhân
vật trong cuộc : nạn nhân của tình yêu ( Mỵ Châu, Cảo Nương ) và
nạn nhân chính trị ( Trọng Thủy, Nhã Lang ) hoặc ngược lại. Thật vội vàng khi kết tội
Mỵ Châu hay Cảo Nương là "giặc": cả hai chẳng vừa là hiếu tử vừa
là trung thần, xuất giá do quân mệnh lẫn phụ mệnh hay sao ? Họ
cũng đã "tòng phu" bằng một trái tim thơ ngây và trinh tiết đúng theo
tinh thần "trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng" mà nề đạo đức đã
từng ca ngợi. Tôn phu nhân qui Thục ? Thế thì, hai chàng " phò mã" Trọng Thủy và
Nhã Lang thì sao? Có thể, việc cưới vợ và
ở rể của Trọng Thủy cũng như Nhã Lang phát xuất từ một âm mưu
chính trị - một hình thức gởi con tin, đúng hơn là cài gián điệp vào
hậu phương của địch. Nhưng cuối cùng, nợ nước khi đã trả xong vẫn
không quên được món nợ của tình yêu ! Họ đã chọn cái chết sau đó
để trọn đạo phu thê chẳng là điều để chúng ta suy gẫm Việc lập đền thờ tự
những con người đã sống và chết trong oan nghiệt ấy, phải chăng đã
nói lên tính nhân ái, độ lượng, sự sẵn lòng thấu cảm và khoan
thứ của dân tộc Việt Nam, một dân tộc vốn rất lẫy lừng chiến
tích trong công cuộc lập nước và dựng nước ? BS HỒ ÐẮC DUY |