SỰ TÁI DIỄN MỘT BI KỊCH TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

CÁCH ÐÂY 2210 NĂM

Bs  Hồ Ðắc Duy

 

q       Chuyện Tình của Nhã Lang và Cảo Nương xãy ra như thế nào ?

q       Bộ tướng của Ðào Lang Vương vơi mưu đồ thoán đoạt đất nước Vạn Xuân

q       Tai sao Dạ Trạch Vương bị chết

 

Ở Từ Liêm cách Hà Nội non chừng 10 cây số , hiên nay còn có một đền thờ tên là Bát Lang  còn gọi la Bát lang Thần , tương truyền rằng đó là đền lập ra để thờ Nhả lang . Vậy nhận vật lịch sử này là ai ?

 

Trong Ðại Việt Sử Toàn Thư trang 184 chép rằng :

"..Canh Dần (570) Nhã Lang bảo vợ rằng : "Trước hai vua của chúng ta cừu thù nhau, nay là thông gia chẳng cũng hay lắm ư ! Nhưng cha nàng có thuật gì mà lui được quân của cha tôi ?" . Cảo Nương không biết ý chồng, bí mật lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang mưu ngầm tráo đỗi móng rồng rồi bảo riêng với Cảo Nương : "Tôi nghĩ ơn sâu của cha mẹ nặng bằng trời đất, vợ chồng ta hòa nhã yêu qúy nhau không nỡ xa cách. Nhưng tôi phải tạm dứt tình về thăm cha mẹ".Nhã lang về cùng bàn mưu với cha đánh úp vua chiếm lấy nuớc.."

 

Nhã Lang là con Hậu Lý Nam Ðế hay còn gọi là Lý Phật tử , ông ta là một bộ tướng của Ðào Lang Vương anh vua Lý Nam Ðế

Trong Khâm định Việt sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn trang  175 chép chuyện này như sau:

                " ...Trước kia, Lý Bôn lánh vào ở động Khuất Lao, anh ruột Lý Bôn là Lý Thiên Bảo cùng với viên tướng cùng họ là Lý Phật Tử rút vào Cửu Chân. Bá Tiên đuổi đánh, Thiên Bảo thua, mới thu thập tàn quân chạy sang vùng người Di, Lạo ở biên giới Ai Lao. Thiên Bảo thấy động Dã Năng ở đầu nguồn sông Ðào giang là chỗ đất bằng phẳng, màu mỡ bèn đắp thành ở đấy, nhân tên đất đặt hiệu nước, được dân chúng tôn làm chúa xưng là Ðào lang Vương.

                Thiên Bảo mất ở động Dã Năng, không con thừa tự, mọi người mới suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi thay để thống suất quân và dân.

 

Ðất Dã Năng thuộc địa phân Ai Lao , Theo sách Thái Bình Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử nhà Tống : "Nước Ai Lao , khoảng giữa niên hiệu Hán Vĩnh Bình (58- 75) thuộc trong khu vực nhà Hán. Nhà hán lấy đất của ho đặt ra hai huyện Ai Lao va Bác Nam , họp lại làm quận Vĩnh Xương , sách ấy chua tức là quận Vân Nam bây giờ . Sau năm 741 đời Ðuòng bị Nam Chiếu chiềm giữ .Theo Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trải nhận xét  ; ". Bộ lạc Ai Lao nhiều lắm , đâu đâu cũng có gọi là Lào"

 

Cảo Nương là con gái cưng của Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục .

 Dạ Trạch Vươnng tên húy là Quang Phục,con Triệu Túc người huyện Chu Diên, uy tráng dũng liệt theo Nam Ðế đánh giặc có công, được trao chức Tả tướng quân. Nam đế mất, bèn xưng vương đóng đô ở Long Biên sau dời sang Vũ Ninh.

Trong phần Ngoại kỷ khi viết về nhà Tiền Lý , các sử gia đã mô tà cuộc chiến đấu hào hùng của Ða Trạch Vương như sau :

                "  ..Ðinh Mão,Thiên Ðức năm thứ tư (547). Mùa xuân 1 tháng giêng nhật thực. Triệu Quang Phục cầm cự với Trần bà Tiên, liệu thế không nổi lui về đầm Dạ Trạch. Ðầm này ở huyện Châu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào mà lướt đi trên cỏ nước mới đến được. Nếu không rất dễ bị lạc hoặc nhỡ rơi xuống sẽ bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ địa thế, đem hai vạn quân vào đóng trong đầm, ban ngày tuyệt không để lộ khói lửa, ban đêm dùng thuyền độc mộc ra đánh quân Bá Tiên, giết và bắt giặc rất nhiều, chiếm lương thực để làm kế lâu dài. Người trong nước gọi Quang Phục là Dạ Trạch Vương. Gặp lúc nhà Lương có loạn, Bá Tiên về, uỷ cho tì tướng Dương Sàn, bị Triệu Quang Phục tung quân ra đánh. Sàn thua chết, quân Lương chạy về Bắc. Vua vào thành Long Biên.."

 

Từ nước Dã Năng ,Lý Phật Tử nhìn thấy Triệu Quang phục đánh đuổi quân xâm lược  phương Bắc , thống nhầt đất nước , thu lấy kinh đô , khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc , được toàn dân tôn vinh  đã khơi dây lòng tham nơi Lý Phật Tử với mưu đồ đen tối  muốn chiếm lấy vị trí của Triệu Quang Phục , Lý Phật Tử  kéo quân xuống phía đông đánh nhau ở Thái Bình với Triệu Quang Phục  5 lần không phân thắng bại, xin hòa. Quang Phục nghĩ Phật Tử cùng họ với tiên vương không nỡ tuyệt tình, lấy châu Quân Thần làm địa giới chia cho ở phía Tây, Phật tử mới dời đô sang ở Ô Diên.

 

                Năm 571, Phật Tử đánh úp, lấy được nhà Triệu.

                Sử cũ chép : Trước kia, giảng hòa với nhà Triệu, Phật Tử có cầu hôn cho con trai là Nhã Lang. Việt Vương gả con gái là Cảo Nương và cho Nhã Lang ơ û rể. Nhã Lang lấy rộm cái móng rồng trở về nước mưu với Phật Tử đánh úp Triệu. Triệu Việt Vương thua vì móng rồng không có nữa, mới cùng con gái là Cảo Nương chạy về phía Nam đến cửa biển Ðại Nha, hết đường gieo mình xuống biển chết.

Về sau vua Tùy sai Lưu Phương làm Hành Quân Tổng Quản Dạo Giao Châu cât binh sang đánh nước ta , Lý Phât Tử sợ quá xin hàng , Lưu Phương bắt Phật Tử đem về Trung Quốc và Y chết tại đó

 

Ngô Sĩ Liên cho rằng vua là kẻ hèn nhát

Sử thần Nguyễn Nghiễm thì gọi vua là người làm việc trộm cắp

Còn Ngô thì sĩ thì cho Lý Phật Tử là người ngu dại

 

Bi kịch Nhã Lang và Cảo Nương xãy ra đúng 700 năm sau một bi kịch tương tự là chuyện theo vết lông ngỗng của Mỵ Châu -Trọng Thủy trong thời An Dương Vương với Thành Cổ Loa

 

Phần Ngoại kỷ của Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư trang 138 chép chuyện này như sau : " ...Tân Mão, năm thứ 48 (210 TCN)-Tần Thủy Hoàng 37- Mùa đông tháng 10, Tần Thủy Hoàng mất ở Sa khâu, Nhâm Ngao và Triệu Ðà đem quân sang xâm lấn. Ðà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua. An Dương Vương  đem nỏ thần ra bắn, Ðà thua chạy.  Ngao đem  thủy quân đóng ở Tiểu Giang vì phạm thổ thần nên bị bệnh, rút về. Ngao bảo Ðà rằng:"Nhà Tần sắp mất dùng kế đánh Phán thì có thể dựng nước được". Ðà biết An Dương Vương có nỏ thần không thể địch nổi,lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. An Dương Vương mừng bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Ðức huyện Ðông Ngàn) trở lên phía bắc thuộc quyền của Ðà, trở về phía Nam thuộc quyền của vua. Ðà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng. Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ rồi ngầm bẻ gẩt lẫy nỏ, thay cáikhác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo vợ :"Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu nhỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta trở lại đây làm thế nào mà tìm thấy nàng". Mỵ Châu nói : "Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu". Trọng Thủy về báo cho Ðà biết. Ðà đem quân đến đánh. Vua không biết lẫy nỏ dã mất ngồi đánh cời cười mà bảo : "Ðà không sợ nỏ thần sao ?". Quân Ðà tiến đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gẩy rồi. Vua thua chạy về Nam cùng Mỵ Châu trên ngựa. Trọng  Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo. Vua đến bờ biển cùng đường gọi rùa vàng : "Mau đến cứu ta". Rùa vàng nổi lên mắng rằng: "Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi ?" Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu. Mỵ Châu khấn : "Trung tín trọn tiết bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để thù nhục này". Vua chém, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng, hóa thành hạt minh châu. Vua cầm sừng tê văn dài 7 tấc xuống biển mà đi. Trọng Thủy đuổi theo thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc ôm xác đem về chôn ở Loa thành hóa làm đá ngọc. Trọng Thủy nhớ tiếc, trở lại nơi Mỵ Châu tắm gội khi trước nhảy xuống giếng mà chết. Người sau được hạt minh châu ở biển Ðông, lấy nước giếng ấy mà rửa, sắc ngọc càng sáng hơn.

 

Hai cuộc " hôn nhân chính trị" dẫn đến hai biến cố cách nhau - một lần mất nước vào tay Triệu Ðà ( 210 TCN ), một lần mất ngôi về dòng họ Lý Phật Tử  ( 571 sau CN ) - trong lịch sử nước ta là chuyện có thật.

Câu chuyện nỏ thần hay cái móng rồng dù huyễn hoặc cũng là một cách lý giải việc bảo mật của hệ thống an ninh quốc phòng của người xưa mà thôi.

                Ðáng thương cho những nhân vật trong cuộc : nạn nhân của tình yêu ( Mỵ Châu, Cảo Nương ) và nạn nhân chính trị ( Trọng Thủy, Nhã Lang ) hoặc ngược lại.

                Thật vội vàng khi kết tội Mỵ Châu hay Cảo Nương là "giặc": cả hai chẳng vừa là hiếu tử vừa là trung thần, xuất giá do quân mệnh lẫn phụ mệnh hay sao ? Họ cũng đã "tòng phu" bằng một trái tim thơ ngây và trinh tiết đúng theo tinh thần "trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng" mà nề đạo đức đã từng ca ngợi. Tôn phu nhân qui Thục ?

                Thế thì,  hai chàng " phò mã" Trọng Thủy và Nhã Lang thì sao?

                Có thể, việc cưới vợ và ở rể của Trọng Thủy cũng như Nhã Lang phát xuất từ một âm mưu chính trị - một hình thức gởi con tin, đúng hơn là cài gián điệp vào hậu phương của địch. Nhưng cuối cùng, nợ nước khi đã trả xong vẫn không quên được món nợ của tình yêu ! Họ đã chọn cái chết sau đó để trọn đạo phu thê chẳng là điều để chúng ta suy gẫm

                Việc lập đền thờ tự những con người đã sống và chết trong oan nghiệt ấy, phải chăng đã nói lên tính nhân ái, độ lượng, sự sẵn lòng thấu cảm và khoan thứ của dân tộc Việt Nam, một dân tộc vốn rất lẫy lừng chiến tích trong công cuộc lập nước và dựng nước ?

                                                                                                               

                                                                                                                BS  HỒ ÐẮC DUY