Tóm Tắt Chuyện
Huyền Trân Công Chúa
Hồø Đắc Duy

Trên thuyền trở về Đại Việt, công chúa Huyền Trân gặp một cơn bão dữ dội, trong mơ màng sương khói lâng lâng, nàng nhớ lại một quá khứ đã đi qua trong cuộc đời mình, những thay đổi thế cuộc, những kỷ niệm thuở ấu thơ, những chiến tích hào hùng của cha nàng là vua Trần Nhân Tông và của cả dân tộc chống lại ngoại xâm Nguyên Mông. Cha nàng đã hứa gả nàng cho vua Chế Mân nước Chiêm Thành từ năm Tân Sửu (1301) trong một chuyến vân du hành đạo qua Chiêm. Chế Mân là một anh hùng dân tộc của Chiêm quốc, chàng hơn nàng ngót hai mươi tuổi và vợ chàng đã chết từ nhiều năm trước. Khi nàng về làm dâu Chiêm quốc, nàng vừa tròn tuổi cập kê. Cuộc hành trình về Chiêm quốc đã để lại nhiều dấu ấn khó quên, hơn nữa những tháng ngày ngắn ngủi sống bên chồng hạnh phúc tuyệt diệu. Chế Mân đối với nàng là một mẫu người lý tưởng, một người chồng tuyệt vời, chàng là tất cả đối với nàng, và ngược lại, nàng cũng là tất cả đối với chàng, hình như kiếp trước họ đã sống bên nhau. Những ngày cuối cùng trước khi chàng ngàn thu vĩnh biệt, Huyền Trân đã hiểu được điều ấy. Sự hình thành một hiện hữu của tình yêu đó là nàng đang mang thai. Điều này không cho phép nàng tuẫn tiết theo chồng ,sau khi chồng chết, nàng đã hạ sinh thế tử Chế Đa Da. Tình yêu và sự chia ly vĩnh viễn này đã làm trong thêm, thần thánh thêm những giọt nước mắt của nàng

Bây giờ, ngồi trong một khoan thuyền mà chung quanh dập dềnh sóng nước, bão bùng bủa vây. Những ngọn sóng bạc đầu, những bọt nước trắng xóa tung tóe và tan biến nhanh như cuộc đời hiện thực, những tiếng gió gào thét như những bạo tàn của cuộc sống và tình người.

Nàng vẫn còn nhớ lời của vua Chế Chí và quan Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung trước khi đưa nàng ra khơi để làm lễ cầu siêu cho chồng là :Nàng sẽ được trở về đất liền để được hỏa táng theo chồng như những lời nàng đã yêu cầu khi nhắn gửi cho cha nàng và anh nàng là vua Trần Anh Tông.

Bây giờ, nàng đã hiểu là người ta đã phản bội lại nàng, nàng oán trách cả vua Chế Chí nước Chiêm lẫn anh nàng là vua Trần Anh Tông nước Đại Việt, đã vì những suy nghĩ hẹp hòi về cuộc sống thế gian, những tạm bợ của cuộc đời mà bắt nàng phải sống và trở về Đại Việt.

Người ta đâu có hiểu thế nào là tình yêu? Thế nào là sự thủy chung? Sự dâng hiến đời mình cho một mối tình? Người ta đâu có hiểu ở đâu là một thứ hạnh phúc vĩnh hằng mà người ta chỉ nhìn thấy cuộc đời trong lòng bàn tay của mình mà thôi. Anh nàng và vua Chế Chí đã phản bội nàng trong niềm ước vọng của nàng là được mãi mãi và mãi mãi ở bên cạnh người tình, người chồng yêu dấu của mình. Có thể chỉ có một mình cha nàng là hiểu được điều này, hiểu được nàng, hiểu được Chế Mân và hiểu được tình yêu của nàng mà thôi.

"Hướng về nơi ấy tạ người tri âm"

Những giọt nước mắt của nàng là một bức thông điệp tình yêu cho Chế Mân ở nơi suối vàng.

Những ngày tháng tuyệt vời ở Chiêm quốc bên cạnh Chế Mân đã để lại một dấu ấn khó quên. Trước mắt nàng hiện ra một đất nước xinh đẹp với những dãy núi hùng vỹ, những thảm rừng bạt ngàn rực mùi hương quế và mai rừng, những bờ biển trải dài vô tận cho đến phần đất cuối cùng ở phương nam. Ơû đó, có một nền văn minh, có một triết ly, một tôn giáo khác hẳn với Đại Việt, và cũng ở đó trong một khung cảnh lạ lùng với người dân Chêm Thành hiếu khách hiền hòa, và cũng có những thứ mà Huyền Trân không ngờ được như những đền tháp, pho tượng mà lối kiến trúc điêu khắc mang một màu sắc thật độc đáo. Ơû đó người ta đã đối đãi với nàng hết sức tôn trọng, ân cần không phải chỉ lúc Chế Mân còn sống mà cả khi chàng đã chết.

"Một thoáng đi qua, một giấc mơ dĩ vãng."

Trở về Đại Việt, nàng đã phải chứng kiến cảnh ngộ thật xót xa đau đớn đó là ngày mà thượng hoàng Trần Nhân Tông, cha nàng qua đời trên núi Yên Tử.

Theo bước chân của cha già, nàng đã thì phát quy y, mượn câu kinh tiếng mõ để mong tâm được yên ổn trước những bão táp của cuộc đời. Nhưng ma ønào có được. Tin tức những cuộc chiến tranh với Chiêm Thành đã làm héo hắt con tim của Huyền Trân.

Bốn năm sau, anh nàng vua Trần Anh Tông cùng với Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão đã đem quân đánh Chiêm Thành và bắt vua Chế Chí đem về, mấy năm sau thì Chế Chí chết.

Mười một năm sau, cháu nàng vua Trần Minh Tông lại mở một cuộc xâm chiếm lần thứ hai vào đất Chiêm Thành. Thế tử Chế Đa Da con nàng vẫn còn ở lại trên đất Chiêm. Vua Chiêm bấy giờ là Chế Năng phải bôn tẩu ra nước ngoài, cả gia đình nhà chồng tan tác lưu lạc. Chế Đa Da, con nàng tứ cố vô thân không biết sống chết ra sao. Nỗi buồn phiền đó ám ảnh nàng, giày vò nàng, nàng đã không có được phút giây yên ổn, đứa con bị bỏ rơi lại lúc mới tròn ba tháng tuổi là một nỗi ân hận và niềm đau xót tột cùng luôn luôn làm nàng đau khổ. Nỗi đau khổ đã len vào từng đêm trong từng giấc ngủ, một câu hỏi mà luôn luôn hiện hữu trong tâm tưởng nàng: Chế Đa Da, con nàng hiện giờ ra sao?

Thỉnh thoảng những tin tức từ Chiêm Thành gửi về cho nàng biết là Chế Đa Da vẫn còn sống và được tù trưởng A Nan nuôi dưỡng dạy dỗ, con nàng đã trở nên một thiếu niên anh dũng tuấn tú giống như Chế Mân ngày nào khi đánh nhau với quân Mông Cổ.

Sau cuộc xâm lăng lần thứ ba của Đại Việt không thành vào năm Bính Dần (1326), một tin tức cuối cùng mà nàng được biết cho đến nay là thế tử Chế Đa Da thống lĩnh binh quyền Chiêm Thành để đánh nhau với Đại Việt. Quân Đại Việt do Trần Đại Niên làm tướng quân đánh mãi không thắng nên rút về. Còn riêng phần thế tử Chế Đa Da thì sau trận đánh lịch sử đó đã biến mất trên đất nước Chiêm Thành. Nàng chỉ nghe nói thế tử Chế Đa Da đi về hướng Tây Trúc tìm một con đường giải thoát cho chính mình, cho nàng, và cho cả đất nưóc Chiêm Thành lẫn Đại Việt như những điều mà thượng hoàng Trần Nhân Tông cha nàng đã mơ ước và xây dựng nên.

Trong giờ phút lâm chung, Huyền Trân vẫn không tài nào đoạn tuyệt được những nỗi thống khổ oan nghiệt đã đeo đaüng trong suốt năm mươi năm qua. Và sự giải thoát đến với nàng khi thế tử Chế Đa Da trở về dưới lớp áo một vị tăng sĩ, chính con nàng , vị hòa thượng Tây Trúc đó đã độ cho nàng qua khỏi bờ U minh và cũng chính đứa con trai yêu dấu mà nàng đã bỏ lại trên đất nước Chiêm Thành đã vuốt mắt cho mẹ mình trong giờ phút cuối của cuộc sống.

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA
Phần Một

      Không khí nóng chợt nghe hơi lạnh
      Biển rùng mình bạt cánh chim bay
      Chân trời mây lại đùn mây
4.   Một cơn sóng vỗ xúyt quay cột buồm

      Mặt biển đã như tuồng tối lại
      Sóng bạc đầu từng dãi xa xa
      Mấy ngày ròng rã đi qua
8.   Lênh đênh trên biễn ngỡ là chiêm bao

      Biển giận dữ sóng cao ào tới
      Gió thốc mạnh nước dội vào khoang
      Một cơn cuồng nộ kinh hòang
12. E rằng phải chết giữa cơn sóng duềnh

      Cả thác nước trùm lên trước mũi
      Thuyền khi trồi lúc chúi chao nghiêng
      Chung quanh trắng xóa bạt ngàn
16. Cơn lốc giữa biển kinh hòang lắm thay

      Thuyền ngả nghiêng cơn say điên đảo
      Bão ngoài trời hay bão trong tim
      Tưởng rằng dĩ vãng nằm im
20. Hóa ra còn đó vẫn nguyên trong hồn

      Những kỷ niệm tuồi vàng thơ ấu
      Gió hoàng cung từ dạo thu sang
      Lao đao mấy chiếc lá vàng
24. Vẫn còn trong trí nhớ càng đau thêm

      Dĩ vãng như hiện hình năm tháng
      Sông Bạch Ðằng chiến thắng còn vang (22)
      Ðầu năm quý Tỵ. Thượng Hòang (1)
60. Ngôi vua Ðại Việt, vua nhường cho con

      Lễ tấn phong : tháng ba năm ấy
      Kế vị người , thái tử Trần Thuyên
      Sửa sang pháp luật thật nghiêm
64. Lựa người tài giỏi giao quyền coi dân

      Trần Anh Tông tuổi đời mười tám
      Thay thượng hoàng lo lắng việc dân
      Tân vương tiếng nổi xa gần
68. Có tài văn học lại rành việc quân

      Việc trị nước, lấy dân làm trọng
      Còn việc mình coi mỏng như sương
      Ở trong giữ đạo cương thường
72. Bên ngòai phòng thủ luôn luôn sẵn sàng

      Cũng năm ấy Huyền Trân lên sáu
      Sống một thời thơ ấu trong cung
      Một anh Hòang đế Anh Tông
76. Một anh Quốc Chẫn ở cùng với cha

      Phụ vương nàng húy là Trần Khảm (2)
      Người, hai lần chiến thắng Nguyên Mông
      Lên ngôi lấy hiệu Nhân Tông (3)
80. Trúc Lâm Ðại Sĩ lúc xong việc đời (5)

      Hốt Tất Liệt chúa người Mông Cổ
      Coi trần gian như chỗ không ai
      Hai lần muốn chiếm đất đai
84. Bị dân Ðại Việt đuổi dài trước đây

      Hốt Tất Liệt lần này quyết tử (9)
      Sai con là thế tử Thoát Hoan
      Chia quân ba đạo lên đường (55a)
88. Khâm Châu thuyền chiến vượt sang Việt Thường

      Ngày Bính ngọ, Thoát Hoan vừa đến
      Qua Lộc Bình thẳng tiến về tây
      Quân đi chỉ có bốn ngày
92. Khắp vùng Vạn Kiếp thấy đầy quân Nguyên

       Cánh Vân Nam dưới quyền Tây Hạ (55b)
       Sáu nghìn quân cũng đã sẵn sàng
       Chiếm xong Bạch Hạc, Phú Lương
96. Hội quân Vạn Kiếp mở đường thọc sâu

       Ở Khâm Châu , Mã Nhi vượt biển
       Thuyền năm trăm điều khiễn phía đông
       An Ban đánh bật quân Trần
100. Khỏi nơi cứ điểm ở gần kinh sư

       Giăc hẹn nhau cùng vô Vạn Kiếp (9) (55b)
       Bọn xâm lăng xảo quyệt ranh ma
       Ðặt chông , đắp lũy để mà
104. Lập thành cứ địa ngăn ta đánh vào

       Hoan sai Uyên từ sau đánh tới
       Lấy hết vùng quanh núi Chí Linh
       Dựng lều che trại đắp thành
108. Làm kho dự bị để dành chứa lương

       Chúng cướp được trên đường sục sạo
       Bốn mươi ngàn thạch gạo của dân
       Tạm thời cứu vãn nuôi quân
112. Chờ Trương Văn Hổ mang lương qua dần

       Ởû Thăng Long quân Trần thất thế
       Bỏ kinh thành rút đến Hán Nam (9)
       Dưới sông cho cắm cọc ngầm
116. Ðợi khi quân giặc ăn gần hết lương

       Nơi Vạn Kiếp giặc đang nao núng
       Vua nhà Trần, Trúc Ðộng điểm quân
       Quân Nam xuất hiện như thần
120. Khiến cho tướng giặc bội phần lo âu

       Chiến tranh để tiêu hao kẻ địch
       Giặc yếu dần co xích gần nhau
       Gióng cờ phía trước, đánh sau
124. Ðánh cho đất thảm, trời sầu mới thôi !

       Ban đêm giặc chẳng rời khỏi trại
       Ðợi sáng trời mới dám ra quân
       Thiếu lương, quân số hao dần
128. Vào ngày Nhâm ngọ rút quân chạy về (9) (55b)

       Khí thế giặc bốn bề tan rã
       Ðám tiền phong sợ quá rút lui
       Thoát Hoan chán nản ngậm ngùi
132. Ðánh ra thì chết mà lùi không xong

       Ba năm trước một lần tháo chạy
       Chui ống đồng còn nhớ như in
       An Tư công chúatrước rèm (4)
136. Lần này chắc chết nơi miền đất xa

       Quân giặc rút, đường xa trắc trở
       Ðem tàn quân, với số chiến thuyền
       Ði ngang nuí đá Tràng kênh (55b)
140. Thuyền đâm phải cọc chìm nguyên cả đòan

       Giặc đầu hàng , Mã Nhi chịu trói
       Tích Lệ Cơ lủi thủi sau lưng
       Ta thu binh khí và cùng
144. Thuyền lương , đạn dược , giáp đồng ,ngựa voi

       Giặc Mông Cổ nếm mùi thất bại
       Bạch Ðằng Giang thành bãi chôn quân
       Vua Nguyên căm giận bội phần
148. Ba lần xâm lược ba lần về không

       Hốt Tất Liệt vô cùng giận dữ
       Ðày con mình : thế tử Thoát Hoan
       Dương Châu đất trích dặm ngàn (9)
152. Chung thân chốn âý khó toan trở về

       Năm Ất Mùi cha nàng xuống tóc (5)
       Cả một đời ngang dọc đông tây
       Là vua chống giặc trườc đây
156. Nay thành tu sĩ , am mây tu hành

       Mười mấy năm là vua Ðại Việt
       Áo long bào nay quyết cởi ra
       Tìm đường giãi thóat vị tha
160. Thượng hòang lấy hiệu Ðầu Ðà thay tên

       Núi Yên Tử, lan rừng mấy đóa
       Dựng lều tranh là Ngọa Vân Am(6)
       Cỏ khô lót chiếu để nằm
164. Phù sinh một cuộc , nghe thầm suối reo

       Ðèo Hoa Trúc mây treo mấy liếp
       Núi chập chùng nối tiếp chồng nhau
       Xa xa mây bạc một màu
168. Bay ngang lưng núi trắng phau giữa ngàn

       Từ cuộc sống cung vàng điện ngọc
       Qua cuộc đời giội móc, nằm gai
       Áo sồng khóac tạm trên vai
172. Tìm về Thanh Tịnh Tâm người hư không (7)

       Là anh hùng hai lần kháng chiến (28)
       Nghe tiếng người đã khiến quân Nguyên
       Vào năm Ất Dậu chém liền
176. Toa Ðô Nguyên sóai , diệt nguyên bọn này(8)

       Ðối với người là vua một nước
       Với việc nhà là bậc hiền phu!
       Thiền Tông cũng đấng chân tu
180. Nhân cách như thế ai như được ngài?

       Bỏ việc đời, thảnh thơi hành đạo
       Ðất Chiêm Thành một dạo dừng chân (28)
       Ngao du sơn thủy bao lần
184. Gập ghềnh dốc núi tay lần hạt châu

       Dân Chiêm thành mời ngài vào ngự
       Trong hoàng cung cho đủ tiện nghi
       Người xin từ chối bởi vì
188. Thân này tu sĩ xin về chùa Chiêm

       Vua Chế Mân gặp riêng bửa nọ
       Vị tăng già một thuở vang danh
       Ðã từng viện trợ chiến thuyền
192. Giúp Chiêm quân khí liên minh bấy giờ

       Xưa Chiêm Quốc, trong thời lệ thuộc
       Phải cống triều một lượt ba năm (10)
       Coi ta là kẻ xâm lăng
196. Thù người ngọai tộc ngấm ngầm trong tim

       Vua nước Chiêm mối hiềm khó xóa
       Thù hận xưa như đá khắc sâu
       Lạ lùng thay, sự nhiệm màu
200. Khi vua gặp gỡ áo nâu vị này

       Vị thiền sư lại đầy lôi cuốn
       Trước mặt chàng ắt muốn điều chi
       Một đòn chính trị hay vì
204. Muốn vào dò xét việc gì phải chăng?

       Duyên tri ngộ người tăng, kẻ tục
       Khi Ðầu Ðà tiếp xúc vua Chiêm
       Chế Mân từ chỗ ngạc nhiên
208. Chuyển sang mến phục , Lão Thiền sư kia

       Cả hai người nghĩ về một ý
       Rằng chiến tranh hoài phí mạng dân
       Hận thù, chém giết, qua phân
212. Sao bằng hòa hiếu xích gần lại nhau

       Thù truyền kiếp trước sau xóa bo
       Tưởng dễ dàng nhưng khó lắm thay
       Làm sao thuận thảo từ nay
216. Xóa đi thù hận những ngày đã qua

       Lòng vị tha ai mà chẳng có
       Bởi sân si nên bỏ quên đi
       Làm sao cho vẹn mọi bề
220. Cho tình giao hảo đề huề hai bên

       Người Chiêm Thành hay dân Ðại Việt
       Cũng là người sao giết lẫn nhau
       Phải coi nhân lọai như nhau
224. Bỏ đi thành kiến từ lâu đã nhầm

       Vì Hòa bình kết thân mới phải
       Ðể cho người bớt trải lầm than
       Gieo mầm hạt giống tình thương
228. Giữa hai dân tộc dọn đường sống chung

       Cùng quan điểm nên lòng cũng hiểu
       Gặp được người đồng điệu như ta
       Từ lòng cảm phục mà ra
232. Với vì vua trẻ tài ba hào hùng

       Trần Nhân Tông hiểu sâu lòng dạ
       Vua nước Chàm ướm gả Huyền Trân (28)
       Mong con hạnh phúc mọi phần
236. Cùng nhau xe kết tình thân một nhà

       Ngài đã nói : Khi ta còn sống
       Không bao giờ dấy động can qua
       Chiến tranh xâm lấn chỉ là
240. Những ngày quá khứ đã qua lâu rồi

       Dễ gì được để ngài cảm phục
       Tự thân người một bậc chân tu
       Xem đời như giấc thiên thu
244. Tưởng rằng là thật nào ngờ chiêm bao

       Chọn một chỗ để trao công chúa
       Tìm một người phải lựa ra sao
       Ðể mong con được làm dâu
248. Môt nơi xứng đáng mai sau cho nàng

       Ngài để tâm chọn chàng làm rể
       Vì Chế Mân thấy rộng trông xa
       Một người bản lãnh tài ba
252. Xứng làm minh chủ đúng là đế vương

       Dân tộc Chàm từ ngày lập quốc (11)
       Ðến bây giờ hơn một ngàn năm
       Biết bao biến cố thăng trầm
256. Ðã từng chiến thắng mấy lần ngoại xâm

       Năm Canh Thìn, người Chân Lạp rút (12)
       Dân Chiêm Thành khôi phục từ đây
       Ðem khối óc lẫn bàn tay
260. Ðắp đê, khơi nước dựng xây nước nhà (13)

       Vua Chiêm Thành Indra đệ ngũ (30)
       Con trưởng là thái tử Chế Mân (30)
       Một người thao lược việc quân
264. Thông minh tư chất, lòng dân đồng tình

       Chàng vũ dũng , trên thuyền điểm lệnh
       Duyêt thủy binh, bên cạnh vua cha
       Áo bào rực đỏ điểm hoa
268. Khăn vành lục biếc gươm tra cạnh sườn

       Thớt voi ngự, đường đường giữa trận
       Thét lệnh truyền oai trấn ba quân
       Ðại Châu vách núi chập chùng (55c)
272. Phía tây thành gỗ, giữa lòng kinh sư

       Năm Nhâm Ngọ ,Toa Ðô đổ bộ(18)
       Ðánh Chiêm Thành gần tới kinh đô
       Chiến thuyền binh khí quân nhu
276. Tấn công Thành Gỗ kể từ tháng giêng (60)

       Ðể cầm chân Giặc Nguyên xâm lược
       Chế Mân đi từng bước như sau
       Nhử cho quân giặc vô sâu
280. Chận đường tiếp tế đường vào trung quân

       Tây vực pháo bội phần nguy hiểm
       Giặc dùng vào đánh chiếm mục tiêu
       Ngòai khơi thuyền chiến nhổ neo
284. Hợp cùng quân bộ kéo theo cả đòan

       Lệnh cho rút, tòan dân di tản
       Vua Chiêm Thành đánh tiếng xin hàng
       Toa Ðô trúng kế tưởng rằng
288 Lần này chiến thắng dể dàng như chơi

       Lập kế sách mòn hơi sức giặc
       Lấy núi rừng vây chặt quân Mông
       Kho lương giặc cạn dần dần
292 Toa Ðô đành phải cam lòng rút lui

       Lựa thế mạnh, núi đồi hiểm trở
       Tiêu hao rồi, dụ rợ hung nô
       Chà Bàn bỏ trống kinh đô
296. Lui vào trong núi để chờ thời cơ

Tiếp theo Phần 2


CHÚ GIẢI

  1. Tháng 3 năm Quý Tî (1293) vua Trần Nhân Tông lên ngôi Thượng Hoàng nhường ngôi vua cho Thái tử Trần Thuyên tức vua Trần Anh Tông lúc đó mới 18 tuổi.
  2. Trần Khảm: tên của vua Trần Nhân Tông.
  3. Năm Kỷ Mão (1279) vua Trần Nhân Tông đổi vương hiệu là Thiệu Bảo.
  4. Năm Aát Dậu (1285) trong cuộc chiến tranh lần thứ II với Mông Cổ vua nhà Trần tìm kế hoãn binh - sách An Nam Chí Lược quyển 4 chép: vua Trần sai tông nhân là Trung hiếu hầu Trần Dương xin hòa, lại sai luôn cận thị Đào Kiên đem quốc muội dâng Trấn Nam Vương (quốc muội là công chúa An Tư, em gái vua Thánh Tông, Trấn Nam Vương là Thoát Hoan )
  5. Tháng 8 năm Aát Mùi (1299) Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử để tu khổ hạnh, trở thành người đứng đầu Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, trước đó vào năm 1295 Thượng Hoàng đã xuống tóc xuất gia tu ở Vũ Lâm.
  6. Ngọa vân am: có nhiều chùa và am trên núi Yên Tử nhưng có 3 am nổi tiếng nhất là: Tử Tiêu, Ngọa Vân và Long Đông, vua Nhân Tông kết hạ tại am Ngọa Vân.
  7. Trở về Thanh Tịnh Tâm: Nam mô A Di Đà Phật.
    Nam mô: sự trở về, A Di Đà Phật: Phật A Di Đà tu theo hạnh Thanh Tịnh Tâm.
  8. Ngày 10 tháng 6 năm Aát Dậu (1285)
    Cánh quân của Toa Đô từ Thanh Hóa vượt biển tiến ra tìm đến đạo quân của Thoát Hoan nhưng bị đón đánh ở Thiện Trường- Thiên Mạc, ngày 24 tháng 6 tổng quân giặc là Trương Hiển phải hàng, Toa Đô bị bắt và chém đầu. Quân Nguyên bị bắt và bị giết rất nhiều, chỉ có Ô Mã Nhi và Lưu Khê là chạy thoát.
  9. Triều cống: ngày xưa theo lệ thì Chiêm Thành 3 năm phải cống cho Đại Việt một lần.
  10. Vương quốc Chiêm Thành: người Chiêm lập quốc vào cuối thế kỷ thứ II. Năm 192 cuộc khởi nghĩa thành công, nghĩa quân Tượng Lâm và Nhật Nam lập được một vương quốc lấy tên là Lâm ấp, đó là một quốc gia đầu tiên hình thành ở phía Nam Đại Việt. Lâm ấp theo giải thích của Thủy Kính chú tức là huyện Tượng Lâm, đọc theo chữ Hán là Tượng Lâm huyện hay Tượng Lâm ấp, về sau bỏ dần chữ Tượng thành ra Lâm ấp. Năm 627-649, vua Viknâtavarman lên ngôi đổi quốc hiệu là Hoàn Vương Quốc. Năm 808, nhà Đường sang đánh, vua Hoàn Vương rút vào nam, dựng kinh đô ở Trà Kiệu và đổi quốc hiệu là Champa tức Chiêm Thành.
  11. Thế kỷ XII: theo bí kỷ Chiêm Thành thì nước Chiêm bị Chân Lạp xâm chiếm từ năm 1199 mãi đến năm Canh Thìn (1220) thì người Chân Lạp rút khỏi Chiêm Thành, đó là bắt đầu một thời kỳ hưng thịnh của Chiêm Thành.
  12. Đắp đê: vua Chiêm Po Klaung Giray (1225-1305) đã cho đắp đập Nha Trinh là một hệ thống dẫn thủy nhập điền vĩ đại thời bấy giờ. Để ghi nhớ công đức này, vua Chế Mân về sau đã cho xây một tháp để thờ, đó là tháp Po Klaung Giray, một trong những tháp Chàm đẹp nhất hiện nay vẫn còn ở tại Phan Rang.
  13. Thái hậu Tuyên Từ: mẹ kế của công chúa Huyền Trân.
  14. Hoàng hậu Thuận Thành: chị dâu của công chúa Huyền Trân, vợ của vua Trần Anh Tông.
  15. Văn Huệ Vương: thầy dạy học của công chúa Huyền Trân.
  16. Tô Lịch: tên của một con sông nổi tiếng của Thăng Long Hồ Tây trước là một nhánh của sông Hồng nơi bắt nguồn của sông Tô Lịch.
  17. Đường Lâm: nơi Ngô Quyền và Bố Cái Đại Vương dấy nghiệp.
  18. Phù Đổng: nằm giữa hai con đê sông Hồng và sông Đuống thuộc huyện Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội, đó là nơi sinh ra Thánh Gióng hay Phù Đổng Thiên Vương.
  19. Bạch Đằng Giang: sông Bạch Đằng, sông Nhị Hà nơi mà Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán và giết chết Hoàng Thao năm 938 - nơi mà Trần Hưng Đạo đánh Thoát Hoan chạy dài năm 1285, sông Bạch Đằng là một phần của sông Hồng - một con sông nổi tiếng của Việt Nam.
  20. Tam Điệp, Thần Phù: Tam Điệp còn gọi là đèo Ba Dội là một dãy núi với ba ngọn chính kế tiếp nhau thuộc các huyện Tam Điệp (Hà Nam Ninh) và Trung Sơn (Thanh Hoá), dãy núi này bắt nguồn từ vùng núi Hoà Bình chạy mãi đến giáp cửa biển Thần Phù.
  21. Núi Nưa, Lệ Hải: sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép "núi Nưa tức Na Sơn ở huyện Nông Cống, năm 243 bà Triệu Thị Trinh (Lệ Hải Bà Vương) cùng anh là Triệu Quốc Đạt lấy núi Nưa làm nơi tụ nghĩa để chống nhau với Lục Dân của nhà Ngô (Tàu).
  22. Miêu Tử Sơn: tức là núi con mèo ở thôn Bồ Xuyên huyện Yên Mô (Tam Điệp), sở dĩ đặt tên như thế vì núi có dáng một con mèo ngồi.
  23. Hoành Sơn, Đèo Ngang, Mũi Ròn: theo quốc lộ 1 sau khi vượt qua huyện lî Kỳ Anh có một vùng núi bỗng nhiên đâm thẳng ra biển theo hướng Tây Đông, đó là dãy Hoành Sơn, Đèo Ngang nằm trong dãy Hoành sơn chỉ cao 256m, đường lên đèo ngoằn nghèo từ đỉnh đồi này sang đỉnh đồi khác, từ trên đỉnh đèo nhìn thấy biển Đông trước mặt, ở tít tận ngoài xa là mũi Ròn, mũi Vùng Chùa và lô nhô các đảo.
  24. Châu Ô: thuộc địa phận Đồng Hới - Thừa Thiên, ở đây có vùng núi đá Kẻ Bàng với những vách núi cheo leo thẳng đứng, ở dưới là những hẻm vực, sâu trong núi đá này có nhiều hang động rất đẹp vàkỳ thú; những dấu tích của người Chiêm Thành để lại vớinhững tháp và bia văn. Một khoảng đồng bằng không xa núi rồi tiếp đến là những đồi cát trắng bạt ngàn.
  25. Bát Đức Thích: nguyên sử quyển 20 Chiêm Thành truyện có chép tên người con thứ tư của vua Chiêm Indravarman V là Lợi Thế Ma Bát Đô Bát Đức Thích- ông này là em ruột của vua Chế Mân.
  26. Vợ của vua Chế Mân là công chúa nước Java, bà này có với Chế Mân 5 người con, trong đó có 2 người là Chế Chí và Chế Đà A Bà Niêm đều làm vua Chiêm Thành, bà này có lẽ đã chết nhiều năm trước khi công chúa Huyền Trân về làm dâu Chiêm Thành.
  27. Gia phả của vua Chế Mân: đọc theo các văn bia Chăm ở Đồng Dương I và II có thể đưa ra gia phả của Chế Mân như sau:
    TRIỀU ĐẠI UROJA
    Paramexvaka sinh ra
    UROJA
    dharmaraja
    rudravarman
    bhadravarman
    sri indravarman
    (jaya indravarman V)
    jaya sinhavarman
    (thái tử Harijt tức vua Chế Mân)


    chế chí chế đà a ba niệm chế đa da
    (con của công chúa nước java) (con của Huyền Trân)
  28. Vua vĩ đại: Po Klaung Giray là vì vua vĩ đại của Chiêm quốc (1225-1305) theo truyền thuyết của Chiêm Thành thì mẹ ngài sinh ra từ bọt biển, thụ thai ngài bằng việc uống nước thần trong hốc đá thiêng, khi sinh ra đời mình ngài đầy ghẻ lác, ngài được một con rồng liếm sạch chúng đi và trở thành một chàng trai trẻ hào hùng tuấn tú và trở nên một vị vua tài ba, một người hiểu biết tất cả. về sau Chế Mân đã lập một tháp lấy tên ngài để thờ phượng.
  29. Ia Trang: Ia Trang là tiếng Chiêm Thành về sau đọc là Nha Trang
  30. Vati : Amaravati là vùng lãnh thổ Chiêm Thành, hiện tại là vùng Quảng Nam Đà Naüng
  31. Ranga : Panduranga là vùng Phan Rang- Phan Rang tiếng Chàm là Panrang.
  32. Tháp Bán Sơn: năm 1283 Toa Đô đóng quân ở tháp Bán Sơn phái Lâm Tử Toàn và Lý Đức Kiên tiến về Đại Châu (Vijaya: Chà Bàn, Đồ Bàn) để đánh vua Chiêm, ở quanh vùng Đồ Bàn có nhiều tháp Chàm, một trong số đó có tháp Bán Sơn.
  33. Đồng Dương - Mỹ Sơn - Trà Kiệu: vùng đất nằm phía Tây tỉnh Quảng Nam - Đà Nẳng, ở đây hiện tại người ta đã tìm được nhiều di tích cổ của người Chiêm Thành- đó cũng là kinh đô của Chiêm Thành vào thế kỷ thứ VII, tại đo ùcó thánh địa Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng ở vùng bán sơn địa phía tây tỉnh Quảng Nam.
  34. Tháp vàng, tháp bạc, tháp : truyền thuyết về ba tháp kể lại chuyện đấu trí giữa vua Po Klaung Giray và vua Khmet khi xây dựng các tháp này.
  35. BRAHMA - SIVA - VISNU: là ba vị thần trong truyền thuyết của dân tộc Chiêm Thành: thần Siva- thần hủy diệt; thần Visnu- thần bảo vệ; thần Brahma- thần sáng tạo.
  36. Sanscrit: chữ Phạn, thứ chữ dùng cho vua chúa, quan lại cao cấp,thần thánh dùng.
  37. Ka li mưng: nước Chiêm Thành có 4 loại chữ để sử dụng: chữ Sanscrit cho vua chúa- đó là chữ Phạn chịu ảnh hưởng văn minh Aán Độ.
    Chữ A Khar Hayap: chữ khắc trên bia
    Chữ A Khar Rik : chữ cổ, chữ thánh, chữ hoa
    Chữ A Khar Thrah: chữ thông dụng, dùng trong nhân dân, trong loại chữ này có 3 loại khác nhau , đó là chữ Yok: chữ không dấu, chữ Twơr: chữ viết tắt và chữ Ka li mưng là chữ viết tháu.
  38. Kraik: là tên môt loại cây biểu tượng cho sức mạnh và linh hồn của vương quốc Chiêm Thành.
  39. Tết Chiêm Thành- lễ Katê: lễ Katê giống như Tết Nguyên Đán của Đại Việt tổ chức vàongày 1 tháng 7 Chàm lịch.
  40. Lịch Chàm: lịch Chiêm Thành khác lịch Đại Việt, năm 78 dương lịch bằng năm thứ nhất lịch Saka tháng 3 âm lịch bằng tháng 1 Chàm lịch.
  41. Kadha: là một loạt bài ca về lịch sử, bài ca này do một nghệ nhân vừa kéo đàn Ka nhi vừa hát.
  42. Rinaih: Kadha Rinaih dauh là một khúc hát, một bài vè đồng dao cho con nít hát.
  43. Ka Nhi: còn gọi là đàn mu rùa, một loại đàn dây của người Chiêm Thành giống như đàn nhị của Đại Việt.
  44. Saranai: một loại kèn của người Chiêm làm bằng sừng, gỗ, ngà voi và đồng; kèn có 3 phần: loa, thân và đuôi kèn. Phần thân có 6 lỗ, mỗi lỗ cách nhau 2 cm, đuôi kèn có lá buông làm lưỡi kèn, đặc biệt của kèn là có thể thổi liên tục không ngắt quãng, lấy hơi thổi liên tục từ một đến hai giờ, kèn dùng để hòa âm với trống Kì Nằng.
  45. Kì Nằng: một loại trống của người Chiêm được làm bằng một thân cây rỗng ruột vỏ rất mỏng, mặt trống bịt bằng da nai hoặc da trâu, tiếng trống phụ họa với cồng chiêng làm tăng thêm sự hùng vỹ của bản nhạc
  46. Điệu Kầm: tiết tấu của trống Kì Nằng trầm, vang, bổng, độ rung của âm thanh kéo dài, trống Kì Nằng có các điệu chính như pìdền, patra và tiong. Tổng cộng có trên 80 điệu trống, đặc biệt điệu pìdền thì vừa phải, khoan thai, chậm rãi nhẹ nhàng như điệu nhạc Valtz.
  47. Văn bia: dùng văn bia để bày tỏ ý tưởng của vua chúa quan lại hay của tác giả thường là ghi lại các chiến công, sự nghiệp, công đức, mục đích là để nói cho người đương thời biết và để lại cho đời sau, cũng là một hình thức khẳng định và bảo vệ các công việc của mình làm, tránh sự xâm phạm và phá hoại.
  48. Po inư nagar: còn gọi là Thánh Mẫu, Mẹ xứ sở, Bà chúa Thiêu Iana, là một cái cân vĩ đại, là một sinh thể tự sinh đầu tiên và duy nhất, là biểu tượng cho đấng tạo hóa từ do sinh ra po yang amư, po debita swơr và po alwah, po alwah và po debita swơr tượng trưng cho âm- dương; po yang amư (còn gọi là thần cha) là đối trọng của po inư nagar. Tục lệ của Chiêm là khi vợ đến gần ngày sinh thì chồng phải đến làm lễ cúng Thánh Mẫu po inư nagar để cầu xin mẹ tròn con vuông.
  49. Linga- yoni: là biểu tượng triết lý của dân tộc Chàm. Linga là một trụ đá có hình dương vật- tượng trưng cho Dương, trên đầu trụ đá có khắc 3 vị thần đó là Siva: tượng trưng cho thần hủy diệt; Visnu: tượng trưng cho thần bảo vệ va Brahma tượng trưng cho thần sáng tạo
    Yoni: là bệ dùng để dựng trụ đá Linga tượng trưng cho Âm
    Thần Siva là thần hủy diệt đóng một vai trò chính trong hệ thống triết học Bà la môn, chết chỉ là mặt trái của sự sống, là sự hoán cải hình tướng của cùng một hữu thể, hủy diệt chính là sự chuẩn bị cho sáng tạo, để sáng tạo cái mới cho nên hủy diệt chính là sự sáng tạo.
  50. Bệnh trạng của Chế Mân: sốt có cơn, vật vã, vàng da, tiểu nước tiểu màu đen, đó có thể là triệu chứng của sốt rét đái huyết sắc tố. Bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao và chỉ xảy ra vài ngày sau khi khởi bệnh.
  51. Bức tóc, đấm ngực: đó là một cách biểu lộ tình cảm xót thương, đau khổ tột độ đối với người chết
  52. Tang lễ của người Chiêm Thành: người theo Bà la môn sẽ hỏa táng. Tuy nhiên trẻ sơ sinh và người tuổi vị thành niên thì phải chôn để trở về với cát bụi, còn người đã trưởng thành có gia đình thì hỏa táng để thân xác họ trở về với hư không. Trà tỳ là lễ hỏa táng của vua- xảy ra 7 ngày sau khi vua băng hà- vợ và cung nữ cũng hỏa thiêu theo.
  53. Ngự thiện: bữa ăn của vua.
  54. Vua Chế Chí: Chế Chí được tôn làm quốc vương Chiêm Thành khi vua Chế Mân chết năm 1307. Tháng năm Nhâm Tý (1312) Chế Chí đến hàng vua Trần Anh Tông khi vua quan nhà Trần xâm lăng Chiêm Thành lần thứ nhất. Cuộc xâm lăng này được thực hiện 3 năm sau ngày Thượng Hoàng Trần Nhân Tông qua đời. Vua Trần trở về mang theo cả ua Chế Chí- năm 1313 Chế Chí mất tại chùa hoàng cung Gia Lâm.
  55. Lâm bồn: chuyển dạ đẻ.
  56. Nước ối: sự thụ tinh xảy ra ở vòi trứng, trứng được thụ tinh, di chuyển và phát triển trong lòng tử cung và sống trong một bọc nước liên lạc với mẹ qua cuống rốn và nhau thai- bọc nước đó gọi là nước ối, khi chuyển dạ thì ối vỡ.
  57. Chế Đa Da: con của vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân, Chế Đa Da là con cùng cha khác mẹ với Chế Chí, Chế Đà A Bà Niêm. Chế Đa Da gọi thượng hoàng Trần Nhân Tông bằng ông ngoại và Trần Anh Tông bằng cậu ruột, đối với vua Trần Minh Tông là anh em cô cậu ruột.
    Năm 1307 vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung qua chiêm Thành để đón thế tử Chế Đa Da và công chúa Huyền Trân về nước.
  58. Bảo Lộc Kê: tháng 9 năm Đinh Mùi (1307) thế tử Chiêm Thành là Chế Đa Da sai sứ thần là Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng và báo tin buồn vua cha chết, cùng tháng đó tại Thăng Long có nạn nước lớn và vỡ đê.
  59. Cương thường: tam cương, ngũ thường. Tam cương là vua tôi, cha con, vợ chồng. Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
  60. Quế hương: vùng rừng Nam- Ngãi có rất nhiều quế.
  61. : người được vua cử sang Chiêm cùng quan Phủ sứ Đông Vân để đón công chúa Huyền Trân, là một trong những người có công trong cuộc kháng chiến lần thứ II mà Đại Việt chống lại Nguyên-Mông, giữ những chức vụ quan trọng trong các triều đại từ vua Trần Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông- mất năm 1330, cùng năm với Trần Nhật Duật.
  62. Gió bay đồi cát: ở vùng Bình Thuận- Mũi Né có rất nhiều đồi cát dọc theo bờ biển- các đồi cát này được tạo thành do sự di chuyển của gió- nhất là mùa gió chướng thì hình dáng của các đồi cát này lại thay hình đổi dạng rất phong phú- đó là cảnh đẹp đặc thù của vùng biển này.
  63. Bờ Đại Lãng: có lẽ là vùng phá Cầu Hai ở Thừa Thiên hiện nay, sau khi biển uốn khúc dưới chân đèo Hải Vân vào đến Lăng Cô thì có một cửa biển gọi là cửa Tư hiền, cửa Tư Hiền thông với cửa Thuận An, tạo thành một vùng nước rộng lớn, ít sóng như một cái hồ dài nhiều chục cây số, đó là vùng đầm phá Cầu Hai, án ngữ trước mặt núi Bạch Mã. Trước mặt cửa Tư Hiền có một đảo nhỏ gọi là núi Túy Vân, trên đó hiện nay vẫn còn một vài di tích của văn hóa Chàm.
  64. Hậu sản: thời kỳ sau khi sinh nở- trong nhân gian gọi thời kỳ này là Phong Long. Thời gian hậu sản thường kéo dài 3 tháng 10 ngày- sau thời gian đó người phụ nữ mới trở lại trạng thái bình thường về tâm lý và sinh lý.
  65. Yên Tử:
  66. Nước dương
  67. Tiếng bảng: trongmỗi chùa người ta trao một ấm bảng, dùng một chiếc đùi nhỏ để gõ vào mặt bảng, âm thanh phát ra báo cho ni chúng biết giờ giấc để học tập, làm việc, từ tụng.
  68. Bảo đàn: Kinh Pháp Bảo Đàn là một tài liệu thiết yếu cho những người tu theo Thiền Tông, cốt tủy Thiền Tông đều nằm gọn trong những lời dạy đơn giản bình dị của Lục tổ Huê năng. Huê năng là người Tân Châu thuộc lãnh Nam, đời Võ Đức (618- 627) nhà Đường Trung Hoa, với bài kệ nổi tiếng:
    Bồ đề bổn vô thọ
    Minh cảnh diệt phi dài
    Bổn lai vô nhất vật
    Hà xứ nhạ trần ai
    Nghĩa là:
  69. Bồ đề vốn không côi
    Gương sáng cũng chẳng dài
    Xưa nay không một vật
    Chỗ nào dính trần ai
  70. Định Huệ: người muốn tu hành thì tâm phải được an tịnh, trí óc phải thông suốt. Tâm muốn an định thì tâm phải trụ vào một cái gì đó để định được, trí cũng phải thế. Muốn tâm được an hay tâm được yên ổn để làm một việc gì đó thì . ngày xưa Huệ Khả đến Tổ sư Đạt Ma để cầu pháp. An tâm Tổ sư bảo rằng " đem tâm ông lại đây tôi an cho", Huệ Khả đáp " tôi tìm tâm không được", Tổ sư nói " tôi đã an tâm cho ông rồi đấy" trong kinh Kim Cang. Đối với Pháp, Bồ Tát nên bố thí không trụ vào pháp tướng như thế. Bởi vì sao. Nếu Bồ Tát bố thí mà không trụ tướng, thời phước đức không thể nghĩ lường được.
  71. Tâm vốn không dao động: tâm hay Bồ đề tâm, xem 71.
  72. Thượng hoàng viên tịch: thượng hoàng Trần Nhân Tông mất ngày 16.11.1308, xem 28.
  73. Đức cù lao:
  74. Thiền: yên lặng, lấy thanh tịnh làm gốc- Nam mô A Di Đà Phật- có nghĩa là trở về với phật A Di Đà, phật A Di Đà lấy thanh tịnh tâm làm gốc- Nam mô A Di Đà phật là trở về với thanh tịnh tâm- tu thiền là trở về với thanh tịnh tâm, xem thêm 80.
  75. Nam tào:
  76. Tháng Chạp năm Tân Hợi (1311) vua Trần Anh Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành, chia làm 3 đạo theo đường núi, đường bộ, đường biển, cùng tiến có các Đại tướng và Đại thần cùng đi: Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão.giữa năm 1312 thì bắt vua Chiêm là Chế Chí đem về Đại Việt.
  77. Năm 1318 (lúc đó Chế đa Da được 11 tuổi) vua Trần Minh Tông sai Trần Quốc Chẩn cùng Phạm Ngũ Lão đem quân đi đánh Chiêm Thành lần thứ 2- vua Chiêm là Chế Đà A Bà Niệm ( còn gọi là Chế Năng, là anh cùng cha khác mẹ với Chế Đa Da), chạy sang nước Qua Da (trong quần đảo Mã Lai- Indonexia). Quân trân lập tù trưởng A Nan làm Á Vương Chiêm Thành rồi rút về.
  78. Vua Trần Anh Tông và Trần Quốc Chẩn là anh ruột của Huyền Trân công chúa, là cậu ruột của thế tử Chế Đa Da .
  79. Năm 1314 vua Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng nhường ngôi vua cho thái tử Trần Mạnh tức là vua Trần Minh Tông . Minh Tông và thế tử Chế Đa Da là anh em cô cậu ruột với nhau.
  80. Năm 1326 (năm Bính Dần) vua Trần Minh Tông sai Trần Đại Niên đi đánh Chiêm Thành, không thắng rút về.
  81. Na đề: vị tổ thứ 22 là Ma-noa-la đầu thế kỷ thứ 9 sau khi Phật nhập Niết Bàn là thái tử nước Na- Dề trước khi thị tịch ngài có làm một bài kệ:
    Tâm tùy vạn cảnh chuyển
    Chuyển xứ thật năng u
    Tùy lưu nhân đắc tánh
    Vô hủy diệt vô ưu
    Dịch:
    Tâm theo muôn cảnh chuyển
    Chỗ chuyển thật kín sâu
    Theo dòng nhận được tánh
    Không mừng cũng không lo
  82. Mưa ngâu:
  83. Vi trần: Đức Phật hỏi: "cõi tam thiên đại thiện thế giới có bao nhiêu vi trần; Phải là nhiều chăng?- Thế giới do vi trần mà họp lại tạo thành - vi trần lặng không, không có hình tướng chưa thật.
  84. Vạn vật vô thường: vô thường là sự chuyển biến liên tục vô ngã: là nguyên lý tương quan tương duyên giữa sự vật vì không thấy được tính vô thường và vô ngã của sự vật nên con người mới khổ đau.
  85. Kinh hành: đi kinh hành là đi bách bộ trong thiền đường hoặc quanh thiền thất, bước đi thong thả, nhẹ nhàng, mắt nhìn xuống phía trước khi đi có thể thiền quán.
  86. Giải thoát: ra khỏi, tách ra khỏi, không vướng, không trụ, không chấp,không tướng, không pháp.
  87. An nhiên: an nhiên tự tại, người đã giải thoát, người đã giác ngộ.
  88. Kinh giải thoát: có 4 tướng: tướng ngã là cái giả tướng của thân con người, người đời chấp nhận lấy nó đó gọi là cái Ta. Tướng nhơn: người khác, đối nghịch với cái Ta là người khác. Tướng chúng sanh: chỉ các loài cầm thú, côn trùng, loại có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng và tưởng tho giả: tướng của sanh mạng tiếp nối sống còn trong một thời gian lâu.
  89. Duyên khởi: do lai, nguyên thủy của sự việc.
  90. Quán sát: nhìn thấy thông suốt.
  91. Phật nói: "Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh như lộ, diệc như điểu, ưng tác như thị quán" nghĩa là "tất cả pháp hư vi như chiêm bao như ảo thuật, như bọt nước, như cái bóng, như giọt sương, như ánh chớp. nên quan sát như thế." có nghĩa là không nên chấp trước có cái gì cả.
  92. Đoạn diệt: dứt bỏ, dứt sạch sắc tướng nghiệp tướng pháp tướng.
  93. Mật khế:
  94. Thâm ngô diệu tâm quán pháp: giác ngộ được các pháp.
  95. Ngày 15 tháng giêng năm Quý Tî 13 tháng 2 năm 1283 Toa Đô hạ lệnh tấn công Thành Gỗ


HỒ ÐẮC DUY
285 U2 CÁCH MẠNG THÁNG 8 St
Ward 12 , District 10 , HCM City Viet Nam
Tel (848) 8 . 659 . 244
Email : hodacduy@saigonnet.vn