Tóm Tắt Chuyện
Huyền Trân Công Chúa
Hồø Đắc Duy

... ... ...Mười một năm sau, cháu nàng vua Trần Minh Tông lại mở một cuộc xâm chiếm lần thứ hai vào đất Chiêm Thành. Thế tử Chế Đa Da con nàng vẫn còn ở lại trên đất Chiêm. Vua Chiêm bấy giờ là Chế Năng phải bôn tẩu ra nước ngoài, cả gia đình nhà chồng tan tác lưu lạc. Chế Đa Da, con nàng tứ cố vô thân không biết sống chết ra sao. Nỗi buồn phiền đó ám ảnh nàng, giày vò nàng, nàng đã không có được phút giây yên ổn, đứa con bị bỏ rơi lại lúc mới tròn ba tháng tuổi là một nỗi ân hận và niềm đau xót tột cùng luôn luôn làm nàng đau khổ. Nỗi đau khổ đã len vào từng đêm trong từng giấc ngủ, một câu hỏi mà luôn luôn hiện hữu trong tâm tưởng nàng: Chế Đa Da, con nàng hiện giờ ra sao?...

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA
Phần Hai

       Lực đã mỏi, giặc lo hết gạo (18)
       Cửa Nại Bì bị bão đánh tan
       Thuyền lương chìm hết cả đòan
300. Tướng Lưu Quân Khánh tìm đường rút lui

       Cảm thông lúc Chiêm Thành nguy biến
       Vua nhà Trần gửi viện binh sang
       Quân hai mươi vạn mấy ngàn
304. Năm trăm thuyền chiến lên đường cứu nguy (18)

       Ðịch đã yếu bèn chia từng tốp
       Lẩn vào rừng ăn cướp của dân
       Lính Chiêm , Ðại Việt đón đường
308. Ðánh cho một trận nên thân nhớ đời (18)

       Kỷ niệm đó chưa phai trong trí
       Vua Chiêm Thành và vị thiền sư
       Cùng nhau đàm đạo cả giờ
312. Tìm ra giải pháp cho vừa lòng nhau

       Năm Bính Ngọ, vào đầu tháng sáu (28)
       Phái đoàn Chiêm làm lễ rước dâu
       Thớt voi, kiệu rước quân hầu
316. Cung nhân, cờ quạt trước sau ngợp trời

       Thái thượïng hoàng hạ sơn đưa tiễn
       Giữa triều đình dọn tiệc chia tay
       Lạy cha, lạy mẹ, lạy thầy,
320. Lạy vua, từ giã những ngày vô tư

       Lễ tiên cáo ở nơi thế miếu
       Lui về nhà, phận liễu ra đi
       Ðưa dâu, Thái Hậu Tuyên Từ14)
324. Tặng nàng vàng lụa và đồ tư trang

       Thuận Thành, đang ở ngôi hoàng hậu(15)
       Cũng tặng thêm một chuỗi kim cương
       Sư phụ nàng : Văn Huệ Vương(16)
328. Gưỉ hòm sách vở cho nàng mang theo

       Buổi tiễn đưa lệ gieo thấm áo
       Bước xoay vần con tạo đưa chân
       Giờ vu quy sắp đến gần
332. Dùng dằng mấy phút mắt quần hơi cay

       Hồi trống giục cờ bay thấp thoáng
       Ngoài rèm the, một khoảng mênh mông
       Người đi, ngựa bước ngập ngừng
334. Ướt khăn đẫm lệ lưng chừng mây giăng

       Bờ Tô Lịch, Thăng Long mờ ảo (17)
       Nắng hoàng thành lối cũ còn đâu
       Xa xa núi Tản gội đầu
338. Một làn mây trắng pha màu tương tư

       Ðường Lâm đó, ở đây Phù Ðổng(20)
       Bạch Ðằng Giang còn vọng tiếng ai(22)
       Ðường sang Chiêm quốc còn dài
342. Thiếp giấc trên gối , bên ngoài trăng non

       Ngày lên kiệu, đêm dừng quan trấn
       Tự nhủ mình sao vẫn nôn nao
       Gập ghềnh đồi núi thấp cao
346. Ðường quanh ngàn dặm lối vào sương che

       Gà xao xác giấc mơ về sáng
       Lưng chừng cây nửa mảng sương tan
       Trong chăn một khúc mơ màng
350. Ngoài kia vời vợi dặm đường gió trăng

       Ðường thiên lý mây giăng núi tiếp
       Giữa chân trời Tam Ðiệp vắt ngang (23)
       Cánh buồm thấp thoáng bên nam
354. Khói đùn dặm biếc sương tan nét gầy

       Vách núi dựng bên bờ thung lũng
       Suối xanh dòng uốn khúc quanh quanh
       Thần Phù cửa biển xanh xanh (23)
358. Núi Nưa, Lệ Hải, Bà Trinh thấp dầy (24)

       Trăng nửa mảnh trời khuya vằng vặc
       Giữa trời đêm vết tắt sao băng
       Hồn đầy những nỗi băn khoăn
362. Tuổi thơ gói lại cho chàng chút duyên

       Lá màng rủ chao nghiêng bóng nguyệt
       Trên giường hoa bóng khuyết trăng in
       Hoa trăng lốm đốm trước thềm
366. Lung linh vệt sáng , hồn chìm trong mơ

       Sao trên trời bơ vơ thăm thẳm
       Ðường vu qui ngàn dặm sơn khê
       Chập chùng dốc đá cây che
370. Vẳng sâu tiếng vượn bốn bề quạnh hiu

       Tiếng chuông chùa dặt dìu vời vợi
       Tiếng chày khuya thêm nỗi nhớ mong
       Tương lai phía trước càng gần
374. Hôn nhân trời đặt Chế Mân vào nàng

       Miêu Tử Sơn núi xanh một ngọn (25)
       Ðỉnh trời cao nằm lõm trong mây
       Dưới chân một dãi sông dài
378. Lệnh chàng vừa tới , tin người mang thư

       Cảnh nước mâymơ hồ sương khói
       Vách sườn , mây mấy sợi vắt ngang
       Mịt mùng khói tỏa mơn man
382. Chiều buông xuống núi, Ðèo Ngang lưng trời(26)

       Ráng chiều tím nhẹ phơi vách đá
       Bóng hoàng hôn nhẹ xóa bên trời
       Lao xao cánh nhạn lạc loài
386. Gập ghềnh trong kiệu bồi hồi nhớ thương

       Ðỉnh Ðèo Ngang trắng mờ sương xuống
       Vén rèm che lòng luống ngập ngừng
       Trông vời trước mặt biển đông
390. Lăn tăn sóng đuổi, mũi Ròn lô nhô(26)

       Vượt Hoành Sơn đường vô xa quá(26)
       Cảnh bên đường càng lạ lùng hơn
       Lúa non những mảng xanh rờn
394. Ngựa nghe mõi gối, lối mòn rẽ quanh

       Ðất Chiêm Thành vừa qua mấy bước
       Liễu xanh rờn đồi cát mênh mang
       Châu Ô gió thổi, bạt ngàn (27)
498. Con đường xẻ dọc trong rừng quế chi

       Ðoàn ngựa chiến voi quỳ chực sẵn
       Tiếng cồng khua, trống vẳng đâu đây
       Kha nhi đàn kéo trên tay (46)
400. Một đoàn vũ nhạc đã vây quanh nàng

       Tiếng pháo lệnh trời vang chợt nổ
       Chế Bồ Ðà sứ bộ dừng chân(28)
       Ung dung một vị đại thần
404. Một hòm chiếu chỉ đã nằm trong tay

       Người tuyên đọc bằng hai thứ tiếng
       Lời đón chào dấu triện còn tươi
       Huyền Trân cảm động lặng người
408. Chế Mân sửa sọan đón nàng từ xa

       Thay ngựa qúi, long xa tứ mã
       Cưỡi thuyền rồng qua phá tam giang
       Bụi hồng đường bộ cái quan
412. Hải Vân mây trắng vượt ngàn đồi lim

       Nắng hừng hực, đêm về lạnh giá
       Một tháng rồi ròng rã đi qua
       Tháp chàm thấp thoáng xa xa
416. Nước non ngàn dặm kiệu hoa lại gần

       Lễ đón nàng toàn dân mở hội
       Khắp kinh thành sáng chói hoa đăng
       Ðường vào cờ xí giăng giăng
420. Xênh xang mở lối một đoàn vũ công

       Trời đã xế điện rồng rực rỡ
       Cổng hoàng cung hoa nở đầy sân
       Cung nghinh nàng, đóa hoa xuân
424. Thớt voi mang kiệu quì chân trước thềm

       Vua thân hành, tự mình ra đón
       Trước sân rồng tay đỡ giai nhân
       Tiếng rền vạn tuế toàn dân
428. Nhìn nhau mà tưởng có lần gặp nhau

       Tiếng sét đánh : hay vào cơn mộng
       Nàng thật đây hay bóng ai xưa
       Thoáng qua một phút sững sờ
432. Tay trong tay đã mà ngờ chiêm bao

       Vua giật mình, Huyền Trân cũng vậy
       Trước mặt chàng, mà hãy ngỡ rằng
       Chuyện như cổ tích đây chăng
436. Hình như kiếp trước chiếu chăn đã cùng.

       Rồi công chúa chấp tay lên ngực
       Cúi đầu chào lại đức vua Chiêm
       Vô tình một thoáng nhìn lên
440. Cùng nhau bắt gặp : ai nhìn ai đây?

       Ðêm vũ nhạc vang đầy tiếng nổ
       Cả màn đêm đen, phủ pháo hoa
       Hoàng thành rực sáng, tiếng ca
444. Chiêm vương uy dũng bước ra cùng nàng

       Nàng rực rỡ sánh vai thiên tử
       Ðẹp lạ lùng giữa chỗ ba quân
       Xiêm y Bạch ngọc hồng quần
448. Môi son mắt biếc trắng ngần làn da

       Mũ kim phụng chói lòa ánh ngọc
       Trâm dát vàng cài tóc giai nhân
       Huyền Trân là cả mùa xuân
452. Chế Mân ngơ ngẩn bâng khuâng cả hồn

       Ðể thông báo toàn dân được biết
       Bát Ðức Thích lo việc đăng quang (28)
       Lễ đài chếch hướng Bắc phương
456. Thảm hoa rực đỏ trải đường vào nơi

       Cờ phất phới lễ đài hùng vĩ
       Kiệu voi quỳ quân kỵ theo sau
       Thảm rồng long phụng tranh châu
460. Ngôi cao hoàng hậu từ lâu vắng người(29)

       Trước thềm điện, hương trầm thơm ngát
       Trong hậu đường nhã nhạc xênh xang
       Kì Nằng tiếng trống bỗng vang (48)
464. Ðiệu Kàm chậm rãi mấy hàng vũ công(49)

       Ngôi vương hậu mười năm bỏ trống(29)
       Kể từ ngày công chúa Java (29)
       Chẳng may mệnh mỏng như hoa
468. Dây tơ đứt đoạn số là hư không

       Lễ tấn phong lên ngôi Hoàng hậu
       Ðể nàng làm Vương mẫu thần dân
       Từ nay Hoàng Hậu Huyền Trân
472. Truyền khắc bia đá giấc xuân để đời

       Mấy ngày liền nơi nơi mở hội
       Nhạc cung đình mãi trỗi thâu đêm
       Chúc mừng cho đấng vua Chiêm
476. Có người vợ trẻ sắc duyên vẹn toàn

       Nàng từ nơi Bắc phương ngàn dặm
       Dây tơ hồng chỉ thắm buộc chân
       Cùng chàng Nam quốc, Chế mân
480. Kết duyên son sắt Châu Trần đẹp đôi

       Chuyện tình giữa trai tài gái sắc
       Giữa chàng Nam, gái Bắc kết duyên
       Ðó là một chuyện tự nhiên
484. Không mang ý nghĩa trao tiền bán con

       Lời đàm tiếu đời sau mai hậu
       Là những lời nói xấu đời xưa
       Tình nàng dù đã thiên thu
488. Vẫn trong như hạt nước mưa giữa trời

       Tình giao hảo Chiêm Thành-Ðại Việt
       Kể từ ngày hiểu biết lẫn nhau
       Nàng xin nối lại nhịp cầu
492. Nối tình hữu nghị mai sau thái bình

       Hơi thu lạnh, trăng thanh gác bóng
       Trong cửa hồng lá thắm ngoài song
       Tình yêu càng lúc càng nồng
496. Khi say tiếng hát, khi lồng bóng nhau

       Ðiện Cần Chánh trước sau công việc
       Lúc nhàn du quấn quýt bên nhau
       Tóc bay trăng bạc tựa đầu
500. Hoa niên càng thắm đậm màu ái ân

       Trong cung điện quen dần cuộc sống
       Chốn triều đình chẳng động việc công
       Nàng lo ngự thiện cho chồng
504. Ðại Nam duợc thảo, luận cùng Ngự Y

       Trong cung cấm ngoài kia dân dã
       Tiếng tăm nàng nay đã đồn xa
       Tài sắc đức hạnh lệnh bà
508. Nhân đức đối xử, nết na dịu dàng

       Chẳng bao giờ lạm bàn quốc chính
       Chuyện lúc cần cung thỉnh quân sư
       Chuyên tâm nghiên cứu thi thư
512. Hết Brahma đến Visnu sưu tầm (52) (38)

       Văn hóa Chàm, kho tàng lịch sử
       Nét vàng son tháp cổ Bán Sơn (35)
       Sanscrit chữ để vua quan (39)
516. Chữ Kha Li Mưng dân gian lại dùng (40)

       Vua mến nàng vì nàng hiếu học
       Lịch sử Chàm những mốc thời gian
       Công trình kiến trúc Ðồng Dương (36)
520. Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Ia Trang huy hoàng (32)

       Nét hân hoan của vua trông thấy
       Khi bên nàng ở giữa thần dân
       Khuynh thành tuyệt sắc giai nhân
524. Nói năng khôn khéo lễ tân giúp chồng

       Trong nội cung thướt tha đáng bậc
       Nơi triều đình đệ nhất phu nhân
       Chăm lo hạnh phúc cho dân
528. Việc nhà, việc nước, muôn phần đảm đang

       Vua Chiêm thường du hành thị sát
       Biết dân tình mong ước điều chi
       Miền ngoài đến tận Vati (33) (55c)
532. Khi qua Tháp Bạc lúc về Ranga (34) (55c)

       Từ núi rừng miền xa hải đảo
       Dấu chân chàng vạn nẻo sơn khê
       Lo toan dân được mọi bề
536. Khai hoang phục hóa đắp đê tưới đồng

       Lúc rảnh rỗi Vua cùng Hoàng hậu
       Ra ngoại thành về thấu miền xa
       Chăm lo hỏi trẻ, thăm già
540. Vỗ về trăm họ thiết tha ân cần

       Tháng ngày qua tình dần thắm thiết
       Kraik bên đường mấy chiếc lá rơi
       Hoa đơm kết trái của người
544. Hình như nàng đã mang thai trong lòng

       Quan ngự y tâu vua được biết
       Ðể vua Chàm biết việc Huyền Trân
       Mang thai một tháng mấy tuần
548. Chiêm tinh bấn độn hoàng nhân rõ ràng

       Vua mừng rỡ nàng càng e lệ
       Xuống lệnh truyền chiếu chỉ ban ra
       Hai năm tô thuế được tha
552. Truyền xây thêm tháp Nưgar để thờ (51) (55d)

       Tết Chiêm Thành : ngày đầu tháng bảy (42)(43)
       Khắp mọi nhà những dãy đèn hoa
       Ðua thuyền, leo cột, chọi gà
556. Ở nơi lăng tháp vũ, ca nhạc chào

       Vua, Hoàng hậu đài cao ngự lãm
       Pháo thăng thiên rực sáng cả trời
       Thanh bình hạnh phúc muôn nơi
560. Gió xuân ươm nắng rừng mai nở vàng

       Ðêm giao thừa giọt sương rơi nhẹ
       Ðến Tháp Vàng đón lễ Catê (37) (42)
       Ngoại thành dân mở hội hè
564. Kadha khúc hát khi vè Rinaih (44) (45)

       Khắp đất nước ngày xuân mở hội
       Mai nở đầy rực lối thôn trang
       Vui xuân vang tiếng nhạc vàng
568. Âm thanh ngọt lịm tiếng đàn Kha Nhi (46)

       Ché rượu cần lên men suỉ bọt
       Saranai thánh thót ngân dài (47)
       Nhẹ nhàng một khúc êm tai
572. Cồng chiêng trống vỗ tiếng rơi não nùng

       Vua dạy nàng cổ thi mấy đoạn
       Văn hóa Chàm tư tưởng tiền nhân
       Từng câu, từng nghĩa, thấm dần
576. Uyên thâm như thế Huyền Trân chẳng ngờ

       Chàng nói về vì vua vĩ đại (31) (55d)
       Công đức ngài mãi mãi còn nguyên
       Cakling dẫn thủy nhập điền (13) (55d)
580. Xây nên ngôi tháp để truyền từ nay (31) (55d)

       Lối kiến trúc tháp xây độc đáo
       Trên đồi cao tháp bảo Giray
       Hướng Ðông chính diện cửa này
584. Một quần thể tháp giờ đây vẫn còn

       Một tháp chính một chòm tháp phụ
       Tháp đầu tiên là chỗ bày mâm
       Hai bên đôi tháp để làm
588. Phía Tây : Thủy Tháp một làn nước trong

       Nét hoa văn vòm cong cửa tháp
       Dưới điện thờ trải thảm gấm thêu
       Văn bia ghi lấy mấy điều (50)
592. Công đức, sự nghiệp thêm nhiều sấm thi

       Ngoài kiến trúc, còn về điêu khắc
       Pho tượng Chàm đặc sắc không hai
       Lửa Thiêng thần thoại tạc người
596. Chồm lên ngọn sóng tuyệt vời dáng nghi

       Cặp Linga-Youni biểu tượng (52)
       Triết lý thuần, tư tưởng người Chăm
       Bệ là diễn tả cho "Âm"
600. Linga trụ đá đứng làm thành "Dương"

       Mùi chăn gối nồng hương ân ái
       Phút ban đầu vẫn mãi bên nhau
       Trăng thu vơi khuyết mái đầu
604. Nửa năm hương lửa qua mau chẳéng ngờ

       Cung đàn nắn dây tơ huyền ảo
       Khoảng trời xa mặc áo thiên thanh
       Hạnh phúc đang ở bên mình
608. Ngấm trong da thịt ngoại hình đầy ra

       Ngày tháng đã ươm dần trái chín
       Nước xuân tình làm mịn làn da
       Yêu đương quấn quýt mặn mà
612. Vòng tay khắn khít trăng hoa những ngày

       Rượu chẳng uống tình say chẳng dứt
       Nét hồn nhiên sóng mắt long lanh
       Gió ôm mây trắng gợn tình
616. Gối chăn xô lệch bập bềnh cơn mê

       Gió rờ rẫm lá thu vàng úa
       Mây bên trời dải lụa mong manh
       Căng đầy rạo rực trái xanh
620. Hoa xuân ân ái vây quanh trước giường

       Nét quốc sắc thiên hương vời vợi
       Mấy tháng rồi tưởng mới hôm qua
       Cây vừa nây nẩy trổ hoa
624. Tình ngày càng thắm mặn mà đêm xuân

       Vua Chế Mân vốn ưa săn bắn
       Qua mấy tuần trên rặng Chưpron
       Trở về chỉ được mấy hôm
628. Nghe người khó chịu lên cơn nhức đầu (53)

       Quan ngự y được vua gọi đến
       Chẩn đoán rồi dâng chén thuốc lên
       Qua một ngày, lại một đêm
632. Vẫn không thuyên giảm càng thêm nặng dần

       Bên long sàn Huyền Trân theo dõi
       Bệnh của chồng đến mãi, đêm khuya
       Lay chàng, chàng đã hôn mê (53)
636. Tâm hồn rối loạn chẳng nghe thấy gì

       Lạnh toát người, miệng phì bọt mép (53)
       Tay quơ cào muốn chỉ điều chi
       Ðã thay mấy lượt ngự y
640. Mà sao căn bệnh lạ kỳ không lui

       Mấy ngày qua mấy hồi mê tỉnh
       Nàng vẫn ngồi bên cạnh Quân vương
       Cầu trời phù hộ cho chàng
644. Tai qua nạn khỏi bình an như thường

       Nhưng bệnh tình thêm càng dữ dội
       Da mắt vàng, nước dải màu đen (53)
       Có lần Vua gượng ngồi lên
648. Sau cơn tỉnh dậy mắt nhìn xa xôi

       Run rẩy nắm tay người vợ trẻ
       Ðang sụt sùi rơi lệ đau thương
       Thều thào nói tiếng u buồn
652. Những lời trăn trối chia đường tử sinh

       Ðến canh hai khắp mình lạnh ngắt
       Hơi thở tàn đã tắt còn chi
       Nỗi đau tử biệt sinh ly
656. Nàng như điên dại biết gì nữa đâu

       Người ra đi mối sầu ở lại
       Lệ đau buồn nhỏ mãi không thôi
       Chao ôi đau xót ngậm ngùi
660. Ðoạn trường nào biết đất trời thấu chăng!

       Người nằm đó ngàn năm xa cách
       Mùi trầm hương phảng phất vây quanh
       Ðưa tay vuốt mắt chồng mình
664. Mà nghe chết điếng tan tành giấc mơ

       Tin vua băng bất ngờ, sửng sốt
       Cả rừng người đến trước hoàng cung
       Tiếc thương cho vị anh hùng
668. Bứt tóc đấm ngực não nùng đêm nay (54)

       Trong những ngày phủ đầy tang tóc
       Cả toàn dân thương xót nao nao
       Vì vua, biểu tượng tự hào
672. Là niềm tin của biết bao nhiêu người

       Bảy ngày để khắp nơi chiêm ngưỡng (55)
       Cả nước Chàm vọng hướng để tang
       Xác vua quàng giữa kiệu vàng
676. Trên lưng Bạch tượng hai hàng thân vương

       Sầu gợn sóng đau thương vời vợi
       Nói cười nào chỉ mới đêm qua
       Nghìn thu giấc ngủ xót xa
680. Buông tay vĩnh biệt lệ nhòa mắt ai

       Người đã khuất cuộc đời ngang trái
       Chuyện đi qua mà hẳn còn ngờ
       Một mình ra ngẩn vào ngơ
684. Quên ăn biếng ngủ thẩn thờ nhớ thương

       Sầu như nước băng ngàn vượt thác
       Gợn mắt buồn sương bạc màu tang
       Cô đơn chiếc bóng võ vàng
688. Bên thềm cung điện nắng tàn héo hon

       Ðêm quạnh quẽ nghe hồn bậc khóc
       Tiếng đàn xưa một khúc tương tư
       Cớ sao vương vấn đến giờ
692. Người chừ đâu nữa thiên thu nghìn trùng

       Mong đêm hết, đêm càng thăm thẳm
       Nhìn lên trời thấy ánh sao băng
       Xa xa lạnh lẽo giòng Ngân
696. Chia đôi Ngưu Chức, cách ngăn duyên mình

       Nhớ tuổi xuân, bình minh rực rỡ
       Hơi, da nồng mới đó sao quên
       Tình như ngọn lửa vừa nhen
700. Vội sao tàn lụi, buồn tênh lạ lùng

       Ðêm đằng đẵng, mênh mông mờ ảo
       Thả hồn vào vạn nẻo lênh đênh
       Trần gian tăm tối gập ghềnh
704. Hoa trôi, bèo giạt bập bềnh nơi nao.

       Dàn hỏa thiêu dựng cao bên biển
       Xác thân chàng vĩnh viễn từ đây
       Gởi vào gió thổi, mây bay
708. Hòa cùng cát bụi từ rày phiêu diêu.

       Nhạc trống nổi, kèn reo não nuột
       Lửa cháy bừng khói bốc lên cao
       Ðời người như giấc chiêm bao
712. Bon chen cho lắm cũng vào hư không.

       Mắt đẫm lệ đau lòng vĩnh biệt
       Cuộc đời này nuối tiếc chi đây?
       Khi tình đã chấp cánh bay
716. Còn chăng chỉ có tháng ngày buồn tênh.

       Nàng ngục đầu khóc tình tan nát
       Nhạt nhòa sương ngước mắt nhìn theo
       Bóng chàng dường đã phiêu diêu
720. Trên cao mây thẳm, gió reo lạnh lùng.

       Nàng cũng muốn được cùng hóa kiếp
       Cùng với người ý hiệp, tâm đầu
       Còn gì đáng sống nữa đâu
724. Trà Tỳ xin hẹn năm sau theo chàng.(55)

       Vua Chế Chí đăng quan kế vị(57)
       Là con chàng với vị tiên nhân(29)
       Tân quân rất đỗi ân cần
728. Khuyên nàng tĩnh dưỡng khuây dần nỗi đau

       Ngày hôm sau vua ban chiếu chỉ
       Dành cho nàng chỗ qúi trong cung
       Tôn vinh Thái Hậu sắc phong
732. Cắt người hầu hạ một lòng kính yêu

       Ðể vơi bớt trăm điều sầu khổ
       Giúp nàng quên chuyện cũ đau thương
       Vợ vua Chế Chi cũng thường
736. Tới lui thăm hỏi vấn an mỗi ngày.

       Ngày trở dạ, hoa khai, nhụy nở
       Chỉ một mình ở chốn thâm cung
       Nghĩ mình đơn độc mà run
740. Ðến khi sinh đẻ nhờ trông ai chừ

       Éo le thay cơn mưa định mệnh
       Sóng vỗ sầu bất hạnh vây quanh
       Lao xao bọt nước tan tành
744. Thuyền say chao đảo gập ghềnh chơi vơi

       Phảng phất đó còn mùi chăng gối
       Tình đang nồng lại nỡ tách đôi
       Chiếu chăn chừ cũng ngậm ngùi
748. Ái ân thôi để ngủ vùi ngàn năm.

       Bữa ngự thiện người đâu chẳng thấy(56)
       Chạnh tưởng mình biết mấy cô đơn
       Cầm tay nước mắt chan cơm
752. Ðũa sao một chiếc, chiếc còn lại đâu?

Tiếp theo Phần 3


CHÚ GIẢI

  1. Tháng 3 năm Quý Tî (1293) vua Trần Nhân Tông lên ngôi Thượng Hoàng nhường ngôi vua cho Thái tử Trần Thuyên tức vua Trần Anh Tông lúc đó mới 18 tuổi.
  2. Trần Khảm: tên của vua Trần Nhân Tông.
  3. Năm Kỷ Mão (1279) vua Trần Nhân Tông đổi vương hiệu là Thiệu Bảo.
  4. Năm Aát Dậu (1285) trong cuộc chiến tranh lần thứ II với Mông Cổ vua nhà Trần tìm kế hoãn binh - sách An Nam Chí Lược quyển 4 chép: vua Trần sai tông nhân là Trung hiếu hầu Trần Dương xin hòa, lại sai luôn cận thị Đào Kiên đem quốc muội dâng Trấn Nam Vương (quốc muội là công chúa An Tư, em gái vua Thánh Tông, Trấn Nam Vương là Thoát Hoan )
  5. Tháng 8 năm Aát Mùi (1299) Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử để tu khổ hạnh, trở thành người đứng đầu Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, trước đó vào năm 1295 Thượng Hoàng đã xuống tóc xuất gia tu ở Vũ Lâm.
  6. Ngọa vân am: có nhiều chùa và am trên núi Yên Tử nhưng có 3 am nổi tiếng nhất là: Tử Tiêu, Ngọa Vân và Long Đông, vua Nhân Tông kết hạ tại am Ngọa Vân.
  7. Trở về Thanh Tịnh Tâm: Nam mô A Di Đà Phật.
    Nam mô: sự trở về, A Di Đà Phật: Phật A Di Đà tu theo hạnh Thanh Tịnh Tâm.
  8. Ngày 10 tháng 6 năm Aát Dậu (1285)
    Cánh quân của Toa Đô từ Thanh Hóa vượt biển tiến ra tìm đến đạo quân của Thoát Hoan nhưng bị đón đánh ở Thiện Trường- Thiên Mạc, ngày 24 tháng 6 tổng quân giặc là Trương Hiển phải hàng, Toa Đô bị bắt và chém đầu. Quân Nguyên bị bắt và bị giết rất nhiều, chỉ có Ô Mã Nhi và Lưu Khê là chạy thoát.
  9. Triều cống: ngày xưa theo lệ thì Chiêm Thành 3 năm phải cống cho Đại Việt một lần.
  10. Vương quốc Chiêm Thành: người Chiêm lập quốc vào cuối thế kỷ thứ II. Năm 192 cuộc khởi nghĩa thành công, nghĩa quân Tượng Lâm và Nhật Nam lập được một vương quốc lấy tên là Lâm ấp, đó là một quốc gia đầu tiên hình thành ở phía Nam Đại Việt. Lâm ấp theo giải thích của Thủy Kính chú tức là huyện Tượng Lâm, đọc theo chữ Hán là Tượng Lâm huyện hay Tượng Lâm ấp, về sau bỏ dần chữ Tượng thành ra Lâm ấp. Năm 627-649, vua Viknâtavarman lên ngôi đổi quốc hiệu là Hoàn Vương Quốc. Năm 808, nhà Đường sang đánh, vua Hoàn Vương rút vào nam, dựng kinh đô ở Trà Kiệu và đổi quốc hiệu là Champa tức Chiêm Thành.
  11. Thế kỷ XII: theo bí kỷ Chiêm Thành thì nước Chiêm bị Chân Lạp xâm chiếm từ năm 1199 mãi đến năm Canh Thìn (1220) thì người Chân Lạp rút khỏi Chiêm Thành, đó là bắt đầu một thời kỳ hưng thịnh của Chiêm Thành.
  12. Đắp đê: vua Chiêm Po Klaung Giray (1225-1305) đã cho đắp đập Nha Trinh là một hệ thống dẫn thủy nhập điền vĩ đại thời bấy giờ. Để ghi nhớ công đức này, vua Chế Mân về sau đã cho xây một tháp để thờ, đó là tháp Po Klaung Giray, một trong những tháp Chàm đẹp nhất hiện nay vẫn còn ở tại Phan Rang.
  13. Thái hậu Tuyên Từ: mẹ kế của công chúa Huyền Trân.
  14. Hoàng hậu Thuận Thành: chị dâu của công chúa Huyền Trân, vợ của vua Trần Anh Tông.
  15. Văn Huệ Vương: thầy dạy học của công chúa Huyền Trân.
  16. Tô Lịch: tên của một con sông nổi tiếng của Thăng Long Hồ Tây trước là một nhánh của sông Hồng nơi bắt nguồn của sông Tô Lịch.
  17. Đường Lâm: nơi Ngô Quyền và Bố Cái Đại Vương dấy nghiệp.
  18. Phù Đổng: nằm giữa hai con đê sông Hồng và sông Đuống thuộc huyện Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội, đó là nơi sinh ra Thánh Gióng hay Phù Đổng Thiên Vương.
  19. Bạch Đằng Giang: sông Bạch Đằng, sông Nhị Hà nơi mà Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán và giết chết Hoàng Thao năm 938 - nơi mà Trần Hưng Đạo đánh Thoát Hoan chạy dài năm 1285, sông Bạch Đằng là một phần của sông Hồng - một con sông nổi tiếng của Việt Nam.
  20. Tam Điệp, Thần Phù: Tam Điệp còn gọi là đèo Ba Dội là một dãy núi với ba ngọn chính kế tiếp nhau thuộc các huyện Tam Điệp (Hà Nam Ninh) và Trung Sơn (Thanh Hoá), dãy núi này bắt nguồn từ vùng núi Hoà Bình chạy mãi đến giáp cửa biển Thần Phù.
  21. Núi Nưa, Lệ Hải: sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép "núi Nưa tức Na Sơn ở huyện Nông Cống, năm 243 bà Triệu Thị Trinh (Lệ Hải Bà Vương) cùng anh là Triệu Quốc Đạt lấy núi Nưa làm nơi tụ nghĩa để chống nhau với Lục Dân của nhà Ngô (Tàu).
  22. Miêu Tử Sơn: tức là núi con mèo ở thôn Bồ Xuyên huyện Yên Mô (Tam Điệp), sở dĩ đặt tên như thế vì núi có dáng một con mèo ngồi.
  23. Hoành Sơn, Đèo Ngang, Mũi Ròn: theo quốc lộ 1 sau khi vượt qua huyện lî Kỳ Anh có một vùng núi bỗng nhiên đâm thẳng ra biển theo hướng Tây Đông, đó là dãy Hoành Sơn, Đèo Ngang nằm trong dãy Hoành sơn chỉ cao 256m, đường lên đèo ngoằn nghèo từ đỉnh đồi này sang đỉnh đồi khác, từ trên đỉnh đèo nhìn thấy biển Đông trước mặt, ở tít tận ngoài xa là mũi Ròn, mũi Vùng Chùa và lô nhô các đảo.
  24. Châu Ô: thuộc địa phận Đồng Hới - Thừa Thiên, ở đây có vùng núi đá Kẻ Bàng với những vách núi cheo leo thẳng đứng, ở dưới là những hẻm vực, sâu trong núi đá này có nhiều hang động rất đẹp vàkỳ thú; những dấu tích của người Chiêm Thành để lại vớinhững tháp và bia văn. Một khoảng đồng bằng không xa núi rồi tiếp đến là những đồi cát trắng bạt ngàn.
  25. Bát Đức Thích: nguyên sử quyển 20 Chiêm Thành truyện có chép tên người con thứ tư của vua Chiêm Indravarman V là Lợi Thế Ma Bát Đô Bát Đức Thích- ông này là em ruột của vua Chế Mân.
  26. Vợ của vua Chế Mân là công chúa nước Java, bà này có với Chế Mân 5 người con, trong đó có 2 người là Chế Chí và Chế Đà A Bà Niêm đều làm vua Chiêm Thành, bà này có lẽ đã chết nhiều năm trước khi công chúa Huyền Trân về làm dâu Chiêm Thành.
  27. Gia phả của vua Chế Mân: đọc theo các văn bia Chăm ở Đồng Dương I và II có thể đưa ra gia phả của Chế Mân như sau:
    TRIỀU ĐẠI UROJA
    Paramexvaka sinh ra
    UROJA
    dharmaraja
    rudravarman
    bhadravarman
    sri indravarman
    (jaya indravarman V)
    jaya sinhavarman
    (thái tử Harijt tức vua Chế Mân)


    chế chí chế đà a ba niệm chế đa da
    (con của công chúa nước java) (con của Huyền Trân)
  28. Vua vĩ đại: Po Klaung Giray là vì vua vĩ đại của Chiêm quốc (1225-1305) theo truyền thuyết của Chiêm Thành thì mẹ ngài sinh ra từ bọt biển, thụ thai ngài bằng việc uống nước thần trong hốc đá thiêng, khi sinh ra đời mình ngài đầy ghẻ lác, ngài được một con rồng liếm sạch chúng đi và trở thành một chàng trai trẻ hào hùng tuấn tú và trở nên một vị vua tài ba, một người hiểu biết tất cả. về sau Chế Mân đã lập một tháp lấy tên ngài để thờ phượng.
  29. Ia Trang: Ia Trang là tiếng Chiêm Thành về sau đọc là Nha Trang
  30. Vati : Amaravati là vùng lãnh thổ Chiêm Thành, hiện tại là vùng Quảng Nam Đà Naüng
  31. Ranga : Panduranga là vùng Phan Rang- Phan Rang tiếng Chàm là Panrang.
  32. Tháp Bán Sơn: năm 1283 Toa Đô đóng quân ở tháp Bán Sơn phái Lâm Tử Toàn và Lý Đức Kiên tiến về Đại Châu (Vijaya: Chà Bàn, Đồ Bàn) để đánh vua Chiêm, ở quanh vùng Đồ Bàn có nhiều tháp Chàm, một trong số đó có tháp Bán Sơn.
  33. Đồng Dương - Mỹ Sơn - Trà Kiệu: vùng đất nằm phía Tây tỉnh Quảng Nam - Đà Nẳng, ở đây hiện tại người ta đã tìm được nhiều di tích cổ của người Chiêm Thành- đó cũng là kinh đô của Chiêm Thành vào thế kỷ thứ VII, tại đo ùcó thánh địa Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng ở vùng bán sơn địa phía tây tỉnh Quảng Nam.
  34. Tháp vàng, tháp bạc, tháp : truyền thuyết về ba tháp kể lại chuyện đấu trí giữa vua Po Klaung Giray và vua Khmet khi xây dựng các tháp này.
  35. BRAHMA - SIVA - VISNU: là ba vị thần trong truyền thuyết của dân tộc Chiêm Thành: thần Siva- thần hủy diệt; thần Visnu- thần bảo vệ; thần Brahma- thần sáng tạo.
  36. Sanscrit: chữ Phạn, thứ chữ dùng cho vua chúa, quan lại cao cấp,thần thánh dùng.
  37. Ka li mưng: nước Chiêm Thành có 4 loại chữ để sử dụng: chữ Sanscrit cho vua chúa- đó là chữ Phạn chịu ảnh hưởng văn minh Aán Độ.
    Chữ A Khar Hayap: chữ khắc trên bia
    Chữ A Khar Rik : chữ cổ, chữ thánh, chữ hoa
    Chữ A Khar Thrah: chữ thông dụng, dùng trong nhân dân, trong loại chữ này có 3 loại khác nhau , đó là chữ Yok: chữ không dấu, chữ Twơr: chữ viết tắt và chữ Ka li mưng là chữ viết tháu.
  38. Kraik: là tên môt loại cây biểu tượng cho sức mạnh và linh hồn của vương quốc Chiêm Thành.
  39. Tết Chiêm Thành- lễ Katê: lễ Katê giống như Tết Nguyên Đán của Đại Việt tổ chức vàongày 1 tháng 7 Chàm lịch.
  40. Lịch Chàm: lịch Chiêm Thành khác lịch Đại Việt, năm 78 dương lịch bằng năm thứ nhất lịch Saka tháng 3 âm lịch bằng tháng 1 Chàm lịch.
  41. Kadha: là một loạt bài ca về lịch sử, bài ca này do một nghệ nhân vừa kéo đàn Ka nhi vừa hát.
  42. Rinaih: Kadha Rinaih dauh là một khúc hát, một bài vè đồng dao cho con nít hát.
  43. Ka Nhi: còn gọi là đàn mu rùa, một loại đàn dây của người Chiêm Thành giống như đàn nhị của Đại Việt.
  44. Saranai: một loại kèn của người Chiêm làm bằng sừng, gỗ, ngà voi và đồng; kèn có 3 phần: loa, thân và đuôi kèn. Phần thân có 6 lỗ, mỗi lỗ cách nhau 2 cm, đuôi kèn có lá buông làm lưỡi kèn, đặc biệt của kèn là có thể thổi liên tục không ngắt quãng, lấy hơi thổi liên tục từ một đến hai giờ, kèn dùng để hòa âm với trống Kì Nằng.
  45. Kì Nằng: một loại trống của người Chiêm được làm bằng một thân cây rỗng ruột vỏ rất mỏng, mặt trống bịt bằng da nai hoặc da trâu, tiếng trống phụ họa với cồng chiêng làm tăng thêm sự hùng vỹ của bản nhạc
  46. Điệu Kầm: tiết tấu của trống Kì Nằng trầm, vang, bổng, độ rung của âm thanh kéo dài, trống Kì Nằng có các điệu chính như pìdền, patra và tiong. Tổng cộng có trên 80 điệu trống, đặc biệt điệu pìdền thì vừa phải, khoan thai, chậm rãi nhẹ nhàng như điệu nhạc Valtz.
  47. Văn bia: dùng văn bia để bày tỏ ý tưởng của vua chúa quan lại hay của tác giả thường là ghi lại các chiến công, sự nghiệp, công đức, mục đích là để nói cho người đương thời biết và để lại cho đời sau, cũng là một hình thức khẳng định và bảo vệ các công việc của mình làm, tránh sự xâm phạm và phá hoại.
  48. Po inư nagar: còn gọi là Thánh Mẫu, Mẹ xứ sở, Bà chúa Thiêu Iana, là một cái cân vĩ đại, là một sinh thể tự sinh đầu tiên và duy nhất, là biểu tượng cho đấng tạo hóa từ do sinh ra po yang amư, po debita swơr và po alwah, po alwah và po debita swơr tượng trưng cho âm- dương; po yang amư (còn gọi là thần cha) là đối trọng của po inư nagar. Tục lệ của Chiêm là khi vợ đến gần ngày sinh thì chồng phải đến làm lễ cúng Thánh Mẫu po inư nagar để cầu xin mẹ tròn con vuông.
  49. Linga- yoni: là biểu tượng triết lý của dân tộc Chàm. Linga là một trụ đá có hình dương vật- tượng trưng cho Dương, trên đầu trụ đá có khắc 3 vị thần đó là Siva: tượng trưng cho thần hủy diệt; Visnu: tượng trưng cho thần bảo vệ va Brahma tượng trưng cho thần sáng tạo
    Yoni: là bệ dùng để dựng trụ đá Linga tượng trưng cho Âm
    Thần Siva là thần hủy diệt đóng một vai trò chính trong hệ thống triết học Bà la môn, chết chỉ là mặt trái của sự sống, là sự hoán cải hình tướng của cùng một hữu thể, hủy diệt chính là sự chuẩn bị cho sáng tạo, để sáng tạo cái mới cho nên hủy diệt chính là sự sáng tạo.
  50. Bệnh trạng của Chế Mân: sốt có cơn, vật vã, vàng da, tiểu nước tiểu màu đen, đó có thể là triệu chứng của sốt rét đái huyết sắc tố. Bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao và chỉ xảy ra vài ngày sau khi khởi bệnh.
  51. Bức tóc, đấm ngực: đó là một cách biểu lộ tình cảm xót thương, đau khổ tột độ đối với người chết
  52. Tang lễ của người Chiêm Thành: người theo Bà la môn sẽ hỏa táng. Tuy nhiên trẻ sơ sinh và người tuổi vị thành niên thì phải chôn để trở về với cát bụi, còn người đã trưởng thành có gia đình thì hỏa táng để thân xác họ trở về với hư không. Trà tỳ là lễ hỏa táng của vua- xảy ra 7 ngày sau khi vua băng hà- vợ và cung nữ cũng hỏa thiêu theo.
  53. Ngự thiện: bữa ăn của vua.
  54. Vua Chế Chí: Chế Chí được tôn làm quốc vương Chiêm Thành khi vua Chế Mân chết năm 1307. Tháng năm Nhâm Tý (1312) Chế Chí đến hàng vua Trần Anh Tông khi vua quan nhà Trần xâm lăng Chiêm Thành lần thứ nhất. Cuộc xâm lăng này được thực hiện 3 năm sau ngày Thượng Hoàng Trần Nhân Tông qua đời. Vua Trần trở về mang theo cả ua Chế Chí- năm 1313 Chế Chí mất tại chùa hoàng cung Gia Lâm.
  55. Lâm bồn: chuyển dạ đẻ.
  56. Nước ối: sự thụ tinh xảy ra ở vòi trứng, trứng được thụ tinh, di chuyển và phát triển trong lòng tử cung và sống trong một bọc nước liên lạc với mẹ qua cuống rốn và nhau thai- bọc nước đó gọi là nước ối, khi chuyển dạ thì ối vỡ.
  57. Chế Đa Da: con của vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân, Chế Đa Da là con cùng cha khác mẹ với Chế Chí, Chế Đà A Bà Niêm. Chế Đa Da gọi thượng hoàng Trần Nhân Tông bằng ông ngoại và Trần Anh Tông bằng cậu ruột, đối với vua Trần Minh Tông là anh em cô cậu ruột.
    Năm 1307 vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung qua chiêm Thành để đón thế tử Chế Đa Da và công chúa Huyền Trân về nước.
  58. Bảo Lộc Kê: tháng 9 năm Đinh Mùi (1307) thế tử Chiêm Thành là Chế Đa Da sai sứ thần là Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng và báo tin buồn vua cha chết, cùng tháng đó tại Thăng Long có nạn nước lớn và vỡ đê.
  59. Cương thường: tam cương, ngũ thường. Tam cương là vua tôi, cha con, vợ chồng. Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
  60. Quế hương: vùng rừng Nam- Ngãi có rất nhiều quế.
  61. : người được vua cử sang Chiêm cùng quan Phủ sứ Đặng Vân để đón công chúa Huyền Trân, là một trong những người có công trong cuộc kháng chiến lần thứ II mà Đại Việt chống lại Nguyên-Mông, giữ những chức vụ quan trọng trong các triều đại từ vua Trần Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông- mất năm 1330, cùng năm với Trần Nhật Duật.
  62. Gió bay đồi cát: ở vùng Bình Thuận- Mũi Né có rất nhiều đồi cát dọc theo bờ biển- các đồi cát này được tạo thành do sự di chuyển của gió- nhất là mùa gió chướng thì hình dáng của các đồi cát này lại thay hình đổi dạng rất phong phú- đó là cảnh đẹp đặc thù của vùng biển này.
  63. Bờ Đại Lãng: có lẽ là vùng phá Cầu Hai ở Thừa Thiên hiện nay, sau khi biển uốn khúc dưới chân đèo Hải Vân vào đến Lăng Cô thì có một cửa biển gọi là cửa Tư hiền, cửa Tư Hiền thông với cửa Thuận An, tạo thành một vùng nước rộng lớn, ít sóng như một cái hồ dài nhiều chục cây số, đó là vùng đầm phá Cầu Hai, án ngữ trước mặt núi Bạch Mã. Trước mặt cửa Tư Hiền có một đảo nhỏ gọi là núi Túy Vân, trên đó hiện nay vẫn còn một vài di tích của văn hóa Chàm.
  64. Hậu sản: thời kỳ sau khi sinh nở- trong nhân gian gọi thời kỳ này là Phong Long. Thời gian hậu sản thường kéo dài 3 tháng 10 ngày- sau thời gian đó người phụ nữ mới trở lại trạng thái bình thường về tâm lý và sinh lý.
  65. Yên Tử:
  66. Nước dương
  67. Tiếng bảng: trongmỗi chùa người ta trao một ấm bảng, dùng một chiếc đùi nhỏ để gõ vào mặt bảng, âm thanh phát ra báo cho ni chúng biết giờ giấc để học tập, làm việc, từ tụng.
  68. Bảo đàn: Kinh Pháp Bảo Đàn là một tài liệu thiết yếu cho những người tu theo Thiền Tông, cốt tủy Thiền Tông đều nằm gọn trong những lời dạy đơn giản bình dị của Lục tổ Huê năng. Huê năng là người Tân Châu thuộc lãnh Nam, đời Võ Đức (618- 627) nhà Đường Trung Hoa, với bài kệ nổi tiếng:
    Bồ đề bổn vô thọ
    Minh cảnh diệt phi dài
    Bổn lai vô nhất vật
    Hà xứ nhạ trần ai
    Nghĩa là:
  69. Bồ đề vốn không côi
    Gương sáng cũng chẳng dài
    Xưa nay không một vật
    Chỗ nào dính trần ai
  70. Định Huệ: người muốn tu hành thì tâm phải được an tịnh, trí óc phải thông suốt. Tâm muốn an định thì tâm phải trụ vào một cái gì đó để định được, trí cũng phải thế. Muốn tâm được an hay tâm được yên ổn để làm một việc gì đó thì . ngày xưa Huệ Khả đến Tổ sư Đạt Ma để cầu pháp. An tâm Tổ sư bảo rằng " đem tâm ông lại đây tôi an cho", Huệ Khả đáp " tôi tìm tâm không được", Tổ sư nói " tôi đã an tâm cho ông rồi đấy" trong kinh Kim Cang. Đối với Pháp, Bồ Tát nên bố thí không trụ vào pháp tướng như thế. Bởi vì sao. Nếu Bồ Tát bố thí mà không trụ tướng, thời phước đức không thể nghĩ lường được.
  71. Tâm vốn không dao động: tâm hay Bồ đề tâm, xem 71.
  72. Thượng hoàng viên tịch: thượng hoàng Trần Nhân Tông mất ngày 16.11.1308, xem 28.
  73. Đức cù lao:
  74. Thiền: yên lặng, lấy thanh tịnh làm gốc- Nam mô A Di Đà Phật- có nghĩa là trở về với phật A Di Đà, phật A Di Đà lấy thanh tịnh tâm làm gốc- Nam mô A Di Đà phật là trở về với thanh tịnh tâm- tu thiền là trở về với thanh tịnh tâm, xem thêm 80.
  75. Nam tào:
  76. Tháng Chạp năm Tân Hợi (1311) vua Trần Anh Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành, chia làm 3 đạo theo đường núi, đường bộ, đường biển, cùng tiến có các Đại tướng và Đại thần cùng đi: Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão.giữa năm 1312 thì bắt vua Chiêm là Chế Chí đem về Đại Việt.
  77. Năm 1318 (lúc đó Chế đa Da được 11 tuổi) vua Trần Minh Tông sai Trần Quốc Chẩn cùng Phạm Ngũ Lão đem quân đi đánh Chiêm Thành lần thứ 2- vua Chiêm là Chế Đà A Bà Niệm ( còn gọi là Chế Năng, là anh cùng cha khác mẹ với Chế Đa Da), chạy sang nước Qua Da (trong quần đảo Mã Lai- Indonexia). Quân trân lập tù trưởng A Nan làm Á Vương Chiêm Thành rồi rút về.
  78. Vua Trần Anh Tông và Trần Quốc Chẩn là anh ruột của Huyền Trân công chúa, là cậu ruột của thế tử Chế Đa Da .
  79. Năm 1314 vua Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng nhường ngôi vua cho thái tử Trần Mạnh tức là vua Trần Minh Tông . Minh Tông và thế tử Chế Đa Da là anh em cô cậu ruột với nhau.
  80. Năm 1326 (năm Bính Dần) vua Trần Minh Tông sai Trần Đại Niên đi đánh Chiêm Thành, không thắng rút về.
  81. Na đề: vị tổ thứ 22 là Ma-noa-la đầu thế kỷ thứ 9 sau khi Phật nhập Niết Bàn là thái tử nước Na- Dề trước khi thị tịch ngài có làm một bài kệ:
    Tâm tùy vạn cảnh chuyển
    Chuyển xứ thật năng u
    Tùy lưu nhân đắc tánh
    Vô hủy diệt vô ưu
    Dịch:
    Tâm theo muôn cảnh chuyển
    Chỗ chuyển thật kín sâu
    Theo dòng nhận được tánh
    Không mừng cũng không lo
  82. Mưa ngâu:
  83. Vi trần: Đức Phật hỏi: "cõi tam thiên đại thiện thế giới có bao nhiêu vi trần; Phải là nhiều chăng?- Thế giới do vi trần mà họp lại tạo thành - vi trần lặng không, không có hình tướng chưa thật.
  84. Vạn vật vô thường: vô thường là sự chuyển biến liên tục vô ngã: là nguyên lý tương quan tương duyên giữa sự vật vì không thấy được tính vô thường và vô ngã của sự vật nên con người mới khổ đau.
  85. Kinh hành: đi kinh hành là đi bách bộ trong thiền đường hoặc quanh thiền thất, bước đi thong thả, nhẹ nhàng, mắt nhìn xuống phía trước khi đi có thể thiền quán.
  86. Giải thoát: ra khỏi, tách ra khỏi, không vướng, không trụ, không chấp,không tướng, không pháp.
  87. An nhiên: an nhiên tự tại, người đã giải thoát, người đã giác ngộ.
  88. Kinh giải thoát: có 4 tướng: tướng ngã là cái giả tướng của thân con người, người đời chấp nhận lấy nó đó gọi là cái Ta. Tướng nhơn: người khác, đối nghịch với cái Ta là người khác. Tướng chúng sanh: chỉ các loài cầm thú, côn trùng, loại có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng và tưởng tho giả: tướng của sanh mạng tiếp nối sống còn trong một thời gian lâu.
  89. Duyên khởi: do lai, nguyên thủy của sự việc.
  90. Quán sát: nhìn thấy thông suốt.
  91. Phật nói: "Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh như lộ, diệc như điểu, ưng tác như thị quán" nghĩa là "tất cả pháp hư vi như chiêm bao như ảo thuật, như bọt nước, như cái bóng, như giọt sương, như ánh chớp. nên quan sát như thế." có nghĩa là không nên chấp trước có cái gì cả.
  92. Đoạn diệt: dứt bỏ, dứt sạch sắc tướng nghiệp tướng pháp tướng.
  93. Mật khế:
  94. Thâm ngô diệu tâm quán pháp: giác ngộ được các pháp.
  95. Ngày 15 tháng giêng năm Quý Tî 13 tháng 2 năm 1283 Toa Đô hạ lệnh tấn công Thành Gỗ


HỒ ÐẮC DUY
285 U2 CÁCH MẠNG THÁNG 8 St
Ward 12 , District 10 , HCM City Viet Nam
Tel (848) 8 . 659 . 244
Email : hodacduy@saigonnet.vn