Tóm Tắt Chuyện
Huyền Trân Công Chúa
Hồø Đắc Duy

... ... ...Huyền Trân vẫn không tài nào đoạn tuyệt được những nỗi thống khổ oan nghiệt đã đeo đaüng trong suốt năm mươi năm qua. Và sự giải thoát đến với nàng khi thế tử Chế Đa Da trở về dưới lớp áo một vị tăng sĩ, chính con nàng , vị hòa thượng Tây Trúc đó đã độ cho nàng qua khỏi bờ U minh và cũng chính đứa con trai yêu dấu mà nàng đã bỏ lại trên đất nước Chiêm Thành đã vuốt mắt cho mẹ mình trong giờ phút cuối của cuộc sống.

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA
Phần Ba

       Sầu dằng dặc cơn đau khôn thấu
       Ðến bây giờ cho dẫu ngàn sau
       Lạnh lùng trắng ngọn cỏ lau
756. Ngậm ngùi giường chiếu đượm màu tang thương.

       Trăng khuya lạnh, màn sương lạnh lẽo
       Nhớ người tình áo chéo gươm ngang
       Nhìn lên nước mắt chứa chan
760. Nóc nùng bạt gió tưởng chàng về đây.

       Ba tháng, kể từ ngày chồng mất
       Bỗng nàng đau quạnh thắt từng cơn
       Cơn đau càng lúc càng dồn
764. Nghe thai trằn xuống, lâm bồn đây chăng?(58)

       Tay bấm chặt, mồ hôi lấm tấm
       Nước ối trào ướt đẫm, người đau(59)
       Nghe con tiếng khóc ban đầu
768. Bao nhiêu đau đớn lúc đầu đã qua.

       Mỏi rã rời lòng đà thanh thản
       Con chàng đây, hình tượng chàng đây
       Tình yêu còn lại chút này
772. Nhìn con đỏ hỏn trong tay nhớ người.

       Trong nỗi đau pha niềm hạnh phúc
       Nghĩ tới chàng nước mắt còn cay
       Tiếng chàng vọng lại mưa mây
776. Từ trong thăm thẳm có hay hở người?

       Cả đất trời đón chào Thế tử
       Vua Chiêm Thành Chế Chí truyền ra
       Gọi người là Chế Ða Da (60)
780. Tôn Vương lập ấp để là mừng em.

       Cuối Ðinh Mùi (1307) sứ Chiêm qua báo
       Quan Ðại Thần là Bảo Lộc Kê (61)
       Cùng đoàn sứ bộ ra đi
784. Tới nơi Ðại Việt tâu về vua cha

       Ðã băng hà tháng ba năm ấy
       Sau một tuần trải mấy hôn mê
       Cuối cùng vua đã ra đi
788. Xác thân chịu lễ Trà Tỳ hỏa thiêu.

       Chàng rể qúi ra người thiên cổ
       Tràn ngập đồng đê vỡ nước dâng(61)
       Ðau lòng bạc tóc vua Trần
792. Xa xôi nơi ấy Huyền Trân thế nào?

       Nỗi băn khoăn nôn nao tấc dạ
       Trơ trên cành chiếc lá vàng rơi
       Con đang đau khổ xứ người
796. Lòng cha thấp thỏm đứng ngồi không an.

       Không biết nàng có còn can đảm
       Sống những ngày sầu thảm bủa vây
       Thương nàng đang tuổi thơ ngây
800. Sớm thành góa phụ sầu xây nỗi buồn.

       Lão thiền sư giữ hồn thanh tịnh
       Chuỗi Bồ Ðề dũng mãnh lần theo
       Chào đời với một tiếng kêu
804. Vòng dây oan nghiệt mãi đeo vào người.

       Qua những lời Huyền Trân trình tấu
       Lão thiền sư hiểu thấu lòng con
       Với chồng một đạo sắc son
808. Trà Tỳ xin được cho tròn với nhau.

       Trong phong thư mấy câu nàng viết
       Cho cha già biết việc cầu xin
       Tâm nàng có một niềm tin
812. Dù chồng có thác nước Chiêm vẫn là,

       Chữ trung tín phải là giềng mối
       Trong bang giao để mãi về sau
       Hòa bình chung sống vì nhau
816. Giữa hai dân tộc nghĩa sâu nặng tình.

       Chuyện riêng mình, Trà Tỳ đã quyết(55)
       Như trăng kia khi khuyết khi đầy
       Cuộc đời tựa áng mây bay
820. Hóa thân với lửa chấp tay đợi chồng.

       Có một chuyện nàng mong mỏi được
       Nuôi con, nàng ủy thác Chiêm vương
       Dạy cho đạo nghĩa cương thường (62)
824. Kiếm cung vũ luyện xứng đường nam nhi.

       Này ấu nhi, nhớ lời mẹ dặn
       Quê mẹ là núi Tản Bắc phương
       Nước non Ðại Việt dị thường
828. Núi sông hùng viõ, quê hương mỹ miều,

       Còn quê cha thương yêu vời vợi
       Ðất Chiêm thành xoải tới phương Nam
       Biển xanh cát trắng bạt ngàn
832. Ruộng dâu đất đỏ, quế hương đầy rừng(63)

       Giòng máu con nửa Chàm, nửa Việt
       Phải xử sao cho hết tình sâu
       Quê cha, đất mẹ cùng nhau
836. Một niềm hòa hiếu nhịp cầu thông gia.

       Thuyền trôi giạt , giật qua gió cuốn
       Ðẩy trồi lên chìm xuống nôn nao
       Nàng vừa tỉnh giấc chiêm bao
840. Chung quanh bỗng thấy lao xao tiếng người.

       Quan Thượng Thư lựa lời an ủi (64)
       Lệnh vua Trần nàng phải hồi hương
       Ý Vua và ý Chiêm vương
844. Muốn nàng trình diện Thượng Hoàng Nhân Tông

       Ngài sẽ quyết nỗi lòng Công chúa
       Việc Trà Tỳ nàng đã đưa ra
       Chuyện này là chuyện quốc gia
848. Tình riêng nhưng vốn lại là việc chung

       Bờ Ðại Lãng dừa rừng san sát (66)
       Thuyền tan tành trôi dạt nơi đâu
       Nhìn xa, trời đất đôi màu
852. Nửa xanh mặt nước, nửa sầu chân mây

       Kỳ hậu sản gây gây mỏi mệt(67)
       Sóng dồi say chưa hết cơn đau
       Trời xanh bẻ gãy nhịp cầu
856. Ái ân đứt đoạn pha màu tóc tang

       An phủ sứ Ðặng Vân vào bẩm(64)
       Thuyền theo hầu đã đắm hôm qua
       Vấn an sức khỏe lệnh bà
860. Ðường về cố quốc còn xa nghìn trùng

       Trần Khắc Chung và An Phủ Sứ
       Cũng đau lòng trước sự ra đi
       Vội vàng tử biệt sinh ly
864. Chế Mân vội thác để chi nỗi này

       Cành nguyệt quế, mấy lần hoa nở
       Ðóa hoàng mai giận gió đông phong
       Sương che mây phủ chập chùng
868. Gập ghềnh quay lại lạnh lùng mưa đan

       Sầu càng thấm mưa càng nặng hột
       Gió thở dài như khóc tình xưa
       Dấu chân ai phủ bụi mờ
872. Tưởng rằng trọn kiếp đâu ngờ chia tay

       Ðêm thức giấc còn say cơn mộng
       Nghĩ con thơ bé bỏng ai trông
       Nhớ con đứt ruột nát lòng
876. Nhớ con nước mắt lưng tròng hơi sương

       Nổi thống khổ dễ thường biết trước
       Ðã chìm vào khó bước được ra
       Vú căng cương sữa chan hòa
880. Nghĩ con đang khát lòng ta não nề

       Nắng vàng hoe, gió bay đồi cát (65)
       Tình đang nồng bỗng nhạt sắc hương
       Oái ăm chi cái đoạn trường
884. Người giờ đã khuất hương tàn vây quanh

       Nỗi cô đơn xây thành vây bủa
       Ngày qua ngày từng bữa nao nao
       Oán gì! Ðất thấp trời cao
888. Chạnh lòng nhớ lại biết bao là sầu

       Ðường xa xôi vào sâu Yên Tử (68)
       Núi chập chùng có tự ngàn năm
       Cha già vóc hạc, áo thâm
892. Nụ cười nhân hậu đăm đăm nhìn nàng

       Nàng qùi xuống lệ trào thấm áo
       Kể chuyện đời giông bão đi qua
       Chế Mân nay đã băng hà
896. Bơ vơ thế tử Ða Da con nàng

       Trước Phật đường dâng hương qùi lạy
       Kiếp phong trần xin rảy nước dương (69)
       Ðứt tình một khúc tơ vương
900. Trang nghiêm tiếng bảng, ngân chuông tiếng thừa (70)

       Cha trầm ngâm một lời không nói
       Gửi cái nhìn vào cõi hư vô
       Bảo Ðàn một đóa tường vi (71)
904. Trà tỳ xin được thiên thu với chồng

       Ngài hiểu thấu nỗi lòng con trẻ
       Biết rằng nàng đang nghĩ điều chi
       Tâm chưa định được cơn mê
908. Trí chưa thông suốt những gì thiệt hư(80)

       Trong im lặng nhiều điều được nói
       Bao nỗi lòng cởi trói từ nay
       Bổn tâm tự tánh là hay
912. Vốn không dao động xưa nay cội nguồn(81)

       Một quyển sách trao luôn nàng giữ
       Lão thiền sư chỉ nói mấy lời
       Dặn nàng cố gắng nghỉ ngơi
916. Tâm thường an lạc xa nơi cung đình

       Vua Anh Tông một mình muốn biết
       Chỉ riêng nàng, những việc xảy ra
       Trà Tỳ em muốn hay là
920. Chiêm vương bắt ép em ta Trà Tỳ?

       Lòng chẳng dứt, bốn bề hiu quạnh
       Nỗi sầu nào ẩn hiện quanh đây
       Sụt sùi pha lẫn chua cay
924. Làm sao trả hết, buồn vay cả đời

       Nhỏ giòng lệ khôn vơi sầu hận
       Sao đầy trời, đêm vắng trăng treo
       Vô tình mấy hạt sương gieo
928. Thương con măng sữa, sớm đeo nỗi sầu

       Ðêm thăm thẳm một màu tang chế
       Chàng mất rồi khóc kể nào nguôi
       Như con chim nhạn lạc loài
932. Một ao nước mắt, một trời thương đau

       Sầu uốn khúc người đâu có biết
       Chẳng lúc nào có được bình yên
       Nhớ chi những phút êm đềm
936. Chừ đây như nắng chiều in trước thềm

       Khi nghe tin Thượng hoàng viên tịch (82)
       Cả toàn dân thương tiếc bàng hoàng
       Với nàng đứt ruột bào gan
940. Tang chồng chưa mãn, giờ tang cha già

       Mắt ráo hoảnh nỗi nhà đau đớn
       Ðức cù lao ngàn vạn ngổn ngang(83)
       Luôn hồi một kiếp đa đoan
944. Trầm luân bể khổ dặm trường nhân sinh

       Núi Hổ Sơn vòng quanh dốc đá (68)
       Cảnh lâm tuyền bóng ngã hoàng hôn
       Chùa xa vẳng tiếng chuông vàng
948. Áo sồng thay áo bà hoàng năm xưa

       Bèo một cánh sóng xô, gió đẩy
       Hoa một cành sắc dậy, hương đưa
       Thương ôi trải mấy gió mưa
952. Ðành thôi vui cảnh muối dưa sớm chiều

       Ðời vàng son mỹ miều nhung gấm
       Ðã hết rồi nệm ấm chăn êm
       Mùi thiền nay bén nhân duyên(81)
956. Mượn câu kinh kệ khuây niềm khổ đau

       Nhưng khốn nỗi lòng sầu chưa dứt
       Tưởng con thơ ruột đứt đòi cơn
       Khổ nào, bằng khổ xa con
960. Khóc như vượn khóc vì con như mình

       Ðêm đông giá, gió luồn khe cửa
       Ðến đông này lần lữa ba năm
       Trăng tròn, trăng khuyết, tròn trăng
964. Nhớ thương chồng chất khó ngăn mạch sầu

       Mẹ đứt ruột, con đâu hiểu nổi
       Tội tình chi con mới sinh ra
       Chào đời con chẳng thấy cha
968. Mẹ dù còn đó cũng là như không

       Mẹ lạy con vì lòng yếu đuối
       Bỏ rơi con lúc mới ba trăng
       Tưởng theo cha đến vĩnh hằng
972. Nào ngờ bạc phận cũng bằng sống dư

       Mẹ lạy con bởi vì cách trở
       Không gần con, ấp ủ lúc đau
       Chẳng nghe tiếng nói ban đầu
976. Của con bập bẹ những câu đầu đời

       Mẹ lạy con bởi người dối trá
       Chặt đứt rồi dòng sữa vừa phun
       Tách nhau gió cuốn mây đùn
980. Nhớ con đói sữa mà run cả hồn

       Trong đời mẹ, chỉ còn tiếc nuối
       Không bên con lúc tuổi còn non
       Làm sao nói hết nỗi buồn
984. Chít vành trăng sáng bằng vuông khăn sầu

       Mẹ còn sống coi như đã chết
       Mối thâm tình đã hết từ khi
       Triều đình Ðại Việt đem đi
988. Quân chia ba đạo tiến về đất Chiêm (86)

       Năm năm, trước trong hôn lễ mẹ
       Dân Chiêm thành làm lễ rước dâu
       Dâng làm sính lễ hai châu
992. Tỏ tình hòa hiếu dài lâu sau này

       Tình giao hảo tiếc thay ngắn ngủi
       Giữa Chiêm Thành, Ðại Việt từ đây
       Trở thành như khói sương bay
996. Chiến tranh tái diễn như ngày năm xưa

         Thật đau đớn con còn ít tuổi
         Nhưng con là giòng dõi Chiêm vương
         Mai kia ngoài bãi chiến trường
1000. Thân làm đại tướng chẳng nhường địch quân

         Mẹ cũng biết đời con sẽ khổ
         Bởi vì con có trái tim người
         Mang hai giòng máu Việt Hời
1004. Tình cha, nghĩa mẹ tách đôi sao đành!

         Hận thù do chiến tranh chất đống
         Vua nhà Trần dấy động binh đi
         Bắt vua Chế Chí mang về (57)
1008. Ðặt lên vua mới trị vì nước Chiêm

         Nỗi buồn phiền lòng riêng ai biết
         Cứ mỗi lần dập tiếng quân đi
         Mẹ nghe xấu hổ ê chề
1012. Dù sao cũng đã có khi mẹ là

         Bà Hoàng Hậu kiêu sa một thuở
         Dân Chiêm Thành trăm họ mến yêu
         Chiến tranh giờ hóa tiêu điều
1016. Do đâu, tháp đổ, đền xiêu thế này

         Nỗi lòng mẹ nào ai hiểu được
         Thế cuộc cờ biết trước được đâu!
         Chừ thì thù hận càng sâu
1020. Nhớ ngày xưa ấy mà đau đớn nhiều

         Mẹ ở giữa hai điều oan nghiệt
         Làm sao đây! Trước việc can qua
         Bên này đất Việt quê cha
1024. Bên kia cửa ải xa xa quê chồng

         Tình huynh đệ đã không còn nữa
         Những gì ngài đã giữ nhiều năm
         Giữa hai dân tộc ước thầm
1028. Hòa bình trải rộng tới gần cực Nam

         Mười một năm, ngày sinh Thế tử (87)
         Huệ Võ Vương tái chiếm Chiêm Thành
         Lao vào những cuộc viễn chinh
1032. Chỉ say chiến thắng quên tình thông gia

         Người Chiên Thành người ta chạy loạn
         Chế Ðà A bôn tẩu Qua Da
         Dân tình thống khổ can qua
1036. Còn riêng Thế tử Ða Da lạc loài

         Ðất nước ấy khắp nơi đổ nát
         Trời xanh kia bái ngát nỗi đau
         Oán thù chốc lại thêm sâu
1040. Nhân dân uất hận chắc sau có ngày

         Chế Ða Da lúc này đã lớn
         Với cậu mình lòng oán nhiều hơn
         Xa anh vạn dặm Trường Sơn
1044. Mẹ thì giam lỏng cô đơn cả đời

         Nỗi đau đớn oằn vai tuổi trẻ
         Nặng hận thù lúc nghĩ quốc gia
         Ngẫm mình thêm thấy xót xa
1048. Tình riêng để dưới, trên là quê hương

         Ðời đã dạy cho chàng thù oán
         Gieo vào lòng trong trắng thơ ngây
         Anh thì giặc bắt lưu đày
1052. Còn anh bôn tẩu ra ngoài đảo xa

         Ngôi vua đó người ta áp đặt
         Trước tình cảnh nước mất nhà tan
         Mưu sâu tính kế liên hoàn
1056. A Nan được tước : Á Vương Chiêm Thành

         Cảnh nồi da, đoạn đành xáo thịt
         Người Chiêm Thành nghĩ kế ngăn quân
         Phòng người ngoại tộc xâm lăng
1060. Xây thêm thành lũy để ngăn giặc tràn

         Con cô cậu, người Nam, kẻ Bắc
         Bỗng dưng chừ đối mặt chiến trường
         Hận thù nào có tiếc thương
1064. Thúc quân ra trận còn vương lời nguyền

         Trần Ðại Niên tướng quân Ðại Việt
         Năm Bính Dần lãnh việc đánh Chiêm
         Ða Da thống lĩnh binh quyền
1068. Hai bên quần thảo đất nghiêng trời gầm

         Giữa chiến trường thây nằm ngã ngục
         Cuộc tương tàn càng lúc càng say
         Vì ai gây cảnh tượng này
1072. Máu tuôn thành suối xương xây nên đồi

         Quân Ðại Việt đánh hoài không thắng
         Bèn rút về theo hướng Ðông Tây
         Trải qua đã mấy trăm ngày
1076. Chừ đây tạm lắng phút giây ngậm ngùi

         hế Ða Da cũng lui về trại
         Thành Ðồ Bàn mở hội khao quân
         Riêng chàng lòng mãi bâng khuâng
1080. Quê cha, nước mẹ đồng cân khó lường

         Ðời bể khổ thầm thương số phận
         Tước công hầu vương vấn làm chi
         Còn chăng nắm cỏ xanh rì
1084. Tìm đường giải thóat Na Ðề đến nơi

         Mấy chục năm một đời huyễn mộng
         Ðời xoay vần như bóng chim câu
         Tình nồng một khúc mưa ngâu
1088. Dư âm vọng lại tiếng sầu ngàn năm

         Nàng Công Chúa Huyền Trân thuở nọ
         Mượn cửa thiền làm chỗ nương thân
         Vương chi hạt bụi vi trần
1092. Hồi chuông tĩnh thức còn vương giữa trời

         Giờ kinh hành bên ngoài thiền cốc
         Cỏ ven đường còn bốc hơi sương
         Thế gian vạn sự vô thường
1096. Bước chân thanh thản nhẹ dường khói mây

         Tưởng quên được những ngày đau đớn
         Lại giật mình một thoáng xa xa
         Sao rồi! Thế tử Ða Da
1104. Sáu mươi năm đó, mẹ xa con rồi

         Thân Ðại tướng một thời oanh liệt
         Bỗng nhiên sao! Biền biệt tăm hơi
         Nghe con bỏ nước đi rồi
1108. Tây Trúc hành đạo xa xôi cõi nào?

         Ðã nhiều năm, mẹ nào gặp mặt
         Kể từ khi tấm tức ra đi
         Lên thuyền nào có hồ nghi
1112. Nhìn con thơ dại mẹ thì đắng cay

         Con phiêu bạt tháng ngày đây đó
         Bước gập ghềnh sương gió băng qua
         Sau lưng bỏ lại Tháp Ngà
1116. Oan khiên trói buộc xót xa phận người

         Nỗi khổ này quên làm sao được
         Giọt máu đào lưu lạc nơi đâu
         Mặc dù Ðạo Pháp thâm sâu
1128. Thoát vòng luẩn quẩn, có đâu dễ gì?

         Ðêm đông đến sương che trắng xóa
         Gió rét về lạnh giá từng cơn
         Lúc đau cố nuốt cơm sầu
1132. Dày vò thân xác héo hồn ai đây

         Mây trôi giạt mảnh mai dáng núi
         Chùa Nộn Sơn một cõi thâm u
         Phong sơn vách đá mịt mù
1136. Suối tuôn róc rách như ru lòng người

         Vị sư nữ tuổi đời nặng trĩu
         Ngồi Tham thiền Quán chiếu đời sau
         Quá nhiều những cảnh thương đau
1140. Ði qua trước mắt nỗi sầu khôn nguôi

         Chuyện về sau, người đời kể lại
         Ngày cuối cùng, Công Chúa Huyền Trân
         Trước giờ sắp sửa lâm chung
1144. Có ngài Hòa thượng áo sồng đến thăm

         Người đến thăm chính là thế tử
         Con của nàng công chúa Huyền Trân
         Và chồng Hòang đế Chế Mân
1148. Từ nơi Tây Trúc về thăm mẹ mình

         Vị thiền sư khẽ nghiêng đảnh lễ
         Vấn an người sư nữ già nua
         Thấm truyền Mật Khế chơn tu
1152. Ðộ bà giải thóat qua bờ Vô Minh

         Gió vô tình lay cây nhân thế
         Vòng tử sinh sá kể làm chi
         Cuối đời một cuộc chia ly
1156. Vỗ tay mà hát để nghe tiếng mình

         Khỏang trời xanh sương pha giọt nắng
         Cõi trầm luân chừ vắng bóng ai
         Giữa đời một nhánh hoàng mai
1160. Ðông phong trắng điễm một vài nụ xuân.

Hết


CHÚ GIẢI

  1. Tháng 3 năm Quý Tî (1293) vua Trần Nhân Tông lên ngôi Thượng Hoàng nhường ngôi vua cho Thái tử Trần Thuyên tức vua Trần Anh Tông lúc đó mới 18 tuổi.
  2. Trần Khảm: tên của vua Trần Nhân Tông.
  3. Năm Kỷ Mão (1279) vua Trần Nhân Tông đổi vương hiệu là Thiệu Bảo.
  4. Năm Aát Dậu (1285) trong cuộc chiến tranh lần thứ II với Mông Cổ vua nhà Trần tìm kế hoãn binh - sách An Nam Chí Lược quyển 4 chép: vua Trần sai tông nhân là Trung hiếu hầu Trần Dương xin hòa, lại sai luôn cận thị Đào Kiên đem quốc muội dâng Trấn Nam Vương (quốc muội là công chúa An Tư, em gái vua Thánh Tông, Trấn Nam Vương là Thoát Hoan )
  5. Tháng 8 năm Aát Mùi (1299) Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử để tu khổ hạnh, trở thành người đứng đầu Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, trước đó vào năm 1295 Thượng Hoàng đã xuống tóc xuất gia tu ở Vũ Lâm.
  6. Ngọa vân am: có nhiều chùa và am trên núi Yên Tử nhưng có 3 am nổi tiếng nhất là: Tử Tiêu, Ngọa Vân và Long Đông, vua Nhân Tông kết hạ tại am Ngọa Vân.
  7. Trở về Thanh Tịnh Tâm: Nam mô A Di Đà Phật.
    Nam mô: sự trở về, A Di Đà Phật: Phật A Di Đà tu theo hạnh Thanh Tịnh Tâm.
  8. Ngày 10 tháng 6 năm Aát Dậu (1285)
    Cánh quân của Toa Đô từ Thanh Hóa vượt biển tiến ra tìm đến đạo quân của Thoát Hoan nhưng bị đón đánh ở Thiện Trường- Thiên Mạc, ngày 24 tháng 6 tổng quân giặc là Trương Hiển phải hàng, Toa Đô bị bắt và chém đầu. Quân Nguyên bị bắt và bị giết rất nhiều, chỉ có Ô Mã Nhi và Lưu Khê là chạy thoát.
  9. Triều cống: ngày xưa theo lệ thì Chiêm Thành 3 năm phải cống cho Đại Việt một lần.
  10. Vương quốc Chiêm Thành: người Chiêm lập quốc vào cuối thế kỷ thứ II. Năm 192 cuộc khởi nghĩa thành công, nghĩa quân Tượng Lâm và Nhật Nam lập được một vương quốc lấy tên là Lâm ấp, đó là một quốc gia đầu tiên hình thành ở phía Nam Đại Việt. Lâm ấp theo giải thích của Thủy Kính chú tức là huyện Tượng Lâm, đọc theo chữ Hán là Tượng Lâm huyện hay Tượng Lâm ấp, về sau bỏ dần chữ Tượng thành ra Lâm ấp. Năm 627-649, vua Viknâtavarman lên ngôi đổi quốc hiệu là Hoàn Vương Quốc. Năm 808, nhà Đường sang đánh, vua Hoàn Vương rút vào nam, dựng kinh đô ở Trà Kiệu và đổi quốc hiệu là Champa tức Chiêm Thành.
  11. Thế kỷ XII: theo bí kỷ Chiêm Thành thì nước Chiêm bị Chân Lạp xâm chiếm từ năm 1199 mãi đến năm Canh Thìn (1220) thì người Chân Lạp rút khỏi Chiêm Thành, đó là bắt đầu một thời kỳ hưng thịnh của Chiêm Thành.
  12. Đắp đê: vua Chiêm Po Klaung Giray (1225-1305) đã cho đắp đập Nha Trinh là một hệ thống dẫn thủy nhập điền vĩ đại thời bấy giờ. Để ghi nhớ công đức này, vua Chế Mân về sau đã cho xây một tháp để thờ, đó là tháp Po Klaung Giray, một trong những tháp Chàm đẹp nhất hiện nay vẫn còn ở tại Phan Rang.
  13. Thái hậu Tuyên Từ: mẹ kế của công chúa Huyền Trân.
  14. Hoàng hậu Thuận Thành: chị dâu của công chúa Huyền Trân, vợ của vua Trần Anh Tông.
  15. Văn Huệ Vương: thầy dạy học của công chúa Huyền Trân.
  16. Tô Lịch: tên của một con sông nổi tiếng của Thăng Long Hồ Tây trước là một nhánh của sông Hồng nơi bắt nguồn của sông Tô Lịch.
  17. Đường Lâm: nơi Ngô Quyền và Bố Cái Đại Vương dấy nghiệp.
  18. Phù Đổng: nằm giữa hai con đê sông Hồng và sông Đuống thuộc huyện Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội, đó là nơi sinh ra Thánh Gióng hay Phù Đổng Thiên Vương.
  19. Bạch Đằng Giang: sông Bạch Đằng, sông Nhị Hà nơi mà Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán và giết chết Hoàng Thao năm 938 - nơi mà Trần Hưng Đạo đánh Thoát Hoan chạy dài năm 1285, sông Bạch Đằng là một phần của sông Hồng - một con sông nổi tiếng của Việt Nam.
  20. Tam Điệp, Thần Phù: Tam Điệp còn gọi là đèo Ba Dội là một dãy núi với ba ngọn chính kế tiếp nhau thuộc các huyện Tam Điệp (Hà Nam Ninh) và Trung Sơn (Thanh Hoá), dãy núi này bắt nguồn từ vùng núi Hoà Bình chạy mãi đến giáp cửa biển Thần Phù.
  21. Núi Nưa, Lệ Hải: sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép "núi Nưa tức Na Sơn ở huyện Nông Cống, năm 243 bà Triệu Thị Trinh (Lệ Hải Bà Vương) cùng anh là Triệu Quốc Đạt lấy núi Nưa làm nơi tụ nghĩa để chống nhau với Lục Dân của nhà Ngô (Tàu).
  22. Miêu Tử Sơn: tức là núi con mèo ở thôn Bồ Xuyên huyện Yên Mô (Tam Điệp), sở dĩ đặt tên như thế vì núi có dáng một con mèo ngồi.
  23. Hoành Sơn, Đèo Ngang, Mũi Ròn: theo quốc lộ 1 sau khi vượt qua huyện lî Kỳ Anh có một vùng núi bỗng nhiên đâm thẳng ra biển theo hướng Tây Đông, đó là dãy Hoành Sơn, Đèo Ngang nằm trong dãy Hoành sơn chỉ cao 256m, đường lên đèo ngoằn nghèo từ đỉnh đồi này sang đỉnh đồi khác, từ trên đỉnh đèo nhìn thấy biển Đông trước mặt, ở tít tận ngoài xa là mũi Ròn, mũi Vùng Chùa và lô nhô các đảo.
  24. Châu Ô: thuộc địa phận Đồng Hới - Thừa Thiên, ở đây có vùng núi đá Kẻ Bàng với những vách núi cheo leo thẳng đứng, ở dưới là những hẻm vực, sâu trong núi đá này có nhiều hang động rất đẹp vàkỳ thú; những dấu tích của người Chiêm Thành để lại vớinhững tháp và bia văn. Một khoảng đồng bằng không xa núi rồi tiếp đến là những đồi cát trắng bạt ngàn.
  25. Bát Đức Thích: nguyên sử quyển 20 Chiêm Thành truyện có chép tên người con thứ tư của vua Chiêm Indravarman V là Lợi Thế Ma Bát Đô Bát Đức Thích- ông này là em ruột của vua Chế Mân.
  26. Vợ của vua Chế Mân là công chúa nước Java, bà này có với Chế Mân 5 người con, trong đó có 2 người là Chế Chí và Chế Đà A Bà Niêm đều làm vua Chiêm Thành, bà này có lẽ đã chết nhiều năm trước khi công chúa Huyền Trân về làm dâu Chiêm Thành.
  27. Gia phả của vua Chế Mân: đọc theo các văn bia Chăm ở Đồng Dương I và II có thể đưa ra gia phả của Chế Mân như sau:
    TRIỀU ĐẠI UROJA
    Paramexvaka sinh ra
    UROJA
    dharmaraja
    rudravarman
    bhadravarman
    sri indravarman
    (jaya indravarman V)
    jaya sinhavarman
    (thái tử Harijt tức vua Chế Mân)


    chế chí chế đà a ba niệm chế đa da
    (con của công chúa nước java) (con của Huyền Trân)
  28. Vua vĩ đại: Po Klaung Giray là vì vua vĩ đại của Chiêm quốc (1225-1305) theo truyền thuyết của Chiêm Thành thì mẹ ngài sinh ra từ bọt biển, thụ thai ngài bằng việc uống nước thần trong hốc đá thiêng, khi sinh ra đời mình ngài đầy ghẻ lác, ngài được một con rồng liếm sạch chúng đi và trở thành một chàng trai trẻ hào hùng tuấn tú và trở nên một vị vua tài ba, một người hiểu biết tất cả. về sau Chế Mân đã lập một tháp lấy tên ngài để thờ phượng.
  29. Ia Trang: Ia Trang là tiếng Chiêm Thành về sau đọc là Nha Trang
  30. Vati : Amaravati là vùng lãnh thổ Chiêm Thành, hiện tại là vùng Quảng Nam Đà Naüng
  31. Ranga : Panduranga là vùng Phan Rang- Phan Rang tiếng Chàm là Panrang.
  32. Tháp Bán Sơn: năm 1283 Toa Đô đóng quân ở tháp Bán Sơn phái Lâm Tử Toàn và Lý Đức Kiên tiến về Đại Châu (Vijaya: Chà Bàn, Đồ Bàn) để đánh vua Chiêm, ở quanh vùng Đồ Bàn có nhiều tháp Chàm, một trong số đó có tháp Bán Sơn.
  33. Đồng Dương - Mỹ Sơn - Trà Kiệu: vùng đất nằm phía Tây tỉnh Quảng Nam - Đà Nẳng, ở đây hiện tại người ta đã tìm được nhiều di tích cổ của người Chiêm Thành- đó cũng là kinh đô của Chiêm Thành vào thế kỷ thứ VII, tại đo ùcó thánh địa Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng ở vùng bán sơn địa phía tây tỉnh Quảng Nam.
  34. Tháp vàng, tháp bạc, tháp : truyền thuyết về ba tháp kể lại chuyện đấu trí giữa vua Po Klaung Giray và vua Khmet khi xây dựng các tháp này.
  35. BRAHMA - SIVA - VISNU: là ba vị thần trong truyền thuyết của dân tộc Chiêm Thành: thần Siva- thần hủy diệt; thần Visnu- thần bảo vệ; thần Brahma- thần sáng tạo.
  36. Sanscrit: chữ Phạn, thứ chữ dùng cho vua chúa, quan lại cao cấp,thần thánh dùng.
  37. Ka li mưng: nước Chiêm Thành có 4 loại chữ để sử dụng: chữ Sanscrit cho vua chúa- đó là chữ Phạn chịu ảnh hưởng văn minh Aán Độ.
    Chữ A Khar Hayap: chữ khắc trên bia
    Chữ A Khar Rik : chữ cổ, chữ thánh, chữ hoa
    Chữ A Khar Thrah: chữ thông dụng, dùng trong nhân dân, trong loại chữ này có 3 loại khác nhau , đó là chữ Yok: chữ không dấu, chữ Twơr: chữ viết tắt và chữ Ka li mưng là chữ viết tháu.
  38. Kraik: là tên môt loại cây biểu tượng cho sức mạnh và linh hồn của vương quốc Chiêm Thành.
  39. Tết Chiêm Thành- lễ Katê: lễ Katê giống như Tết Nguyên Đán của Đại Việt tổ chức vàongày 1 tháng 7 Chàm lịch.
  40. Lịch Chàm: lịch Chiêm Thành khác lịch Đại Việt, năm 78 dương lịch bằng năm thứ nhất lịch Saka tháng 3 âm lịch bằng tháng 1 Chàm lịch.
  41. Kadha: là một loạt bài ca về lịch sử, bài ca này do một nghệ nhân vừa kéo đàn Ka nhi vừa hát.
  42. Rinaih: Kadha Rinaih dauh là một khúc hát, một bài vè đồng dao cho con nít hát.
  43. Ka Nhi: còn gọi là đàn mu rùa, một loại đàn dây của người Chiêm Thành giống như đàn nhị của Đại Việt.
  44. Saranai: một loại kèn của người Chiêm làm bằng sừng, gỗ, ngà voi và đồng; kèn có 3 phần: loa, thân và đuôi kèn. Phần thân có 6 lỗ, mỗi lỗ cách nhau 2 cm, đuôi kèn có lá buông làm lưỡi kèn, đặc biệt của kèn là có thể thổi liên tục không ngắt quãng, lấy hơi thổi liên tục từ một đến hai giờ, kèn dùng để hòa âm với trống Kì Nằng.
  45. Kì Nằng: một loại trống của người Chiêm được làm bằng một thân cây rỗng ruột vỏ rất mỏng, mặt trống bịt bằng da nai hoặc da trâu, tiếng trống phụ họa với cồng chiêng làm tăng thêm sự hùng vỹ của bản nhạc
  46. Điệu Kầm: tiết tấu của trống Kì Nằng trầm, vang, bổng, độ rung của âm thanh kéo dài, trống Kì Nằng có các điệu chính như pìdền, patra và tiong. Tổng cộng có trên 80 điệu trống, đặc biệt điệu pìdền thì vừa phải, khoan thai, chậm rãi nhẹ nhàng như điệu nhạc Valtz.
  47. Văn bia: dùng văn bia để bày tỏ ý tưởng của vua chúa quan lại hay của tác giả thường là ghi lại các chiến công, sự nghiệp, công đức, mục đích là để nói cho người đương thời biết và để lại cho đời sau, cũng là một hình thức khẳng định và bảo vệ các công việc của mình làm, tránh sự xâm phạm và phá hoại.
  48. Po inư nagar: còn gọi là Thánh Mẫu, Mẹ xứ sở, Bà chúa Thiêu Iana, là một cái cân vĩ đại, là một sinh thể tự sinh đầu tiên và duy nhất, là biểu tượng cho đấng tạo hóa từ do sinh ra po yang amư, po debita swơr và po alwah, po alwah và po debita swơr tượng trưng cho âm- dương; po yang amư (còn gọi là thần cha) là đối trọng của po inư nagar. Tục lệ của Chiêm là khi vợ đến gần ngày sinh thì chồng phải đến làm lễ cúng Thánh Mẫu po inư nagar để cầu xin mẹ tròn con vuông.
  49. Linga- yoni: là biểu tượng triết lý của dân tộc Chàm. Linga là một trụ đá có hình dương vật- tượng trưng cho Dương, trên đầu trụ đá có khắc 3 vị thần đó là Siva: tượng trưng cho thần hủy diệt; Visnu: tượng trưng cho thần bảo vệ va Brahma tượng trưng cho thần sáng tạo
    Yoni: là bệ dùng để dựng trụ đá Linga tượng trưng cho Âm
    Thần Siva là thần hủy diệt đóng một vai trò chính trong hệ thống triết học Bà la môn, chết chỉ là mặt trái của sự sống, là sự hoán cải hình tướng của cùng một hữu thể, hủy diệt chính là sự chuẩn bị cho sáng tạo, để sáng tạo cái mới cho nên hủy diệt chính là sự sáng tạo.
  50. Bệnh trạng của Chế Mân: sốt có cơn, vật vã, vàng da, tiểu nước tiểu màu đen, đó có thể là triệu chứng của sốt rét đái huyết sắc tố. Bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao và chỉ xảy ra vài ngày sau khi khởi bệnh.
  51. Bức tóc, đấm ngực: đó là một cách biểu lộ tình cảm xót thương, đau khổ tột độ đối với người chết
  52. Tang lễ của người Chiêm Thành: người theo Bà la môn sẽ hỏa táng. Tuy nhiên trẻ sơ sinh và người tuổi vị thành niên thì phải chôn để trở về với cát bụi, còn người đã trưởng thành có gia đình thì hỏa táng để thân xác họ trở về với hư không. Trà tỳ là lễ hỏa táng của vua- xảy ra 7 ngày sau khi vua băng hà- vợ và cung nữ cũng hỏa thiêu theo.
  53. Ngự thiện: bữa ăn của vua.
  54. Vua Chế Chí: Chế Chí được tôn làm quốc vương Chiêm Thành khi vua Chế Mân chết năm 1307. Tháng năm Nhâm Tý (1312) Chế Chí đến hàng vua Trần Anh Tông khi vua quan nhà Trần xâm lăng Chiêm Thành lần thứ nhất. Cuộc xâm lăng này được thực hiện 3 năm sau ngày Thượng Hoàng Trần Nhân Tông qua đời. Vua Trần trở về mang theo cả ua Chế Chí- năm 1313 Chế Chí mất tại chùa hoàng cung Gia Lâm.
  55. Lâm bồn: chuyển dạ đẻ.
  56. Nước ối: sự thụ tinh xảy ra ở vòi trứng, trứng được thụ tinh, di chuyển và phát triển trong lòng tử cung và sống trong một bọc nước liên lạc với mẹ qua cuống rốn và nhau thai- bọc nước đó gọi là nước ối, khi chuyển dạ thì ối vỡ.
  57. Chế Đa Da: con của vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân, Chế Đa Da là con cùng cha khác mẹ với Chế Chí, Chế Đà A Bà Niêm. Chế Đa Da gọi thượng hoàng Trần Nhân Tông bằng ông ngoại và Trần Anh Tông bằng cậu ruột, đối với vua Trần Minh Tông là anh em cô cậu ruột.
    Năm 1307 vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung qua chiêm Thành để đón thế tử Chế Đa Da và công chúa Huyền Trân về nước.
  58. Bảo Lộc Kê: tháng 9 năm Đinh Mùi (1307) thế tử Chiêm Thành là Chế Đa Da sai sứ thần là Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng và báo tin buồn vua cha chết, cùng tháng đó tại Thăng Long có nạn nước lớn và vỡ đê.
  59. Cương thường: tam cương, ngũ thường. Tam cương là vua tôi, cha con, vợ chồng. Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
  60. Quế hương: vùng rừng Nam- Ngãi có rất nhiều quế.
  61. : người được vua cử sang Chiêm cùng quan Phủ sứ Đặng Vân để đón công chúa Huyền Trân, là một trong những người có công trong cuộc kháng chiến lần thứ II mà Đại Việt chống lại Nguyên-Mông, giữ những chức vụ quan trọng trong các triều đại từ vua Trần Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông- mất năm 1330, cùng năm với Trần Nhật Duật.
  62. Gió bay đồi cát: ở vùng Bình Thuận- Mũi Né có rất nhiều đồi cát dọc theo bờ biển- các đồi cát này được tạo thành do sự di chuyển của gió- nhất là mùa gió chướng thì hình dáng của các đồi cát này lại thay hình đổi dạng rất phong phú- đó là cảnh đẹp đặc thù của vùng biển này.
  63. Bờ Đại Lãng: có lẽ là vùng phá Cầu Hai ở Thừa Thiên hiện nay, sau khi biển uốn khúc dưới chân đèo Hải Vân vào đến Lăng Cô thì có một cửa biển gọi là cửa Tư hiền, cửa Tư Hiền thông với cửa Thuận An, tạo thành một vùng nước rộng lớn, ít sóng như một cái hồ dài nhiều chục cây số, đó là vùng đầm phá Cầu Hai, án ngữ trước mặt núi Bạch Mã. Trước mặt cửa Tư Hiền có một đảo nhỏ gọi là núi Túy Vân, trên đó hiện nay vẫn còn một vài di tích của văn hóa Chàm.
  64. Hậu sản: thời kỳ sau khi sinh nở- trong nhân gian gọi thời kỳ này là Phong Long. Thời gian hậu sản thường kéo dài 3 tháng 10 ngày- sau thời gian đó người phụ nữ mới trở lại trạng thái bình thường về tâm lý và sinh lý.
  65. Yên Tử:
  66. Nước dương
  67. Tiếng bảng: trongmỗi chùa người ta trao một ấm bảng, dùng một chiếc đùi nhỏ để gõ vào mặt bảng, âm thanh phát ra báo cho ni chúng biết giờ giấc để học tập, làm việc, từ tụng.
  68. Bảo đàn: Kinh Pháp Bảo Đàn là một tài liệu thiết yếu cho những người tu theo Thiền Tông, cốt tủy Thiền Tông đều nằm gọn trong những lời dạy đơn giản bình dị của Lục tổ Huê năng. Huê năng là người Tân Châu thuộc lãnh Nam, đời Võ Đức (618- 627) nhà Đường Trung Hoa, với bài kệ nổi tiếng:
    Bồ đề bổn vô thọ
    Minh cảnh diệt phi dài
    Bổn lai vô nhất vật
    Hà xứ nhạ trần ai
    Nghĩa là:
  69. Bồ đề vốn không côi
    Gương sáng cũng chẳng dài
    Xưa nay không một vật
    Chỗ nào dính trần ai
  70. Định Huệ: người muốn tu hành thì tâm phải được an tịnh, trí óc phải thông suốt. Tâm muốn an định thì tâm phải trụ vào một cái gì đó để định được, trí cũng phải thế. Muốn tâm được an hay tâm được yên ổn để làm một việc gì đó thì . ngày xưa Huệ Khả đến Tổ sư Đạt Ma để cầu pháp. An tâm Tổ sư bảo rằng " đem tâm ông lại đây tôi an cho", Huệ Khả đáp " tôi tìm tâm không được", Tổ sư nói " tôi đã an tâm cho ông rồi đấy" trong kinh Kim Cang. Đối với Pháp, Bồ Tát nên bố thí không trụ vào pháp tướng như thế. Bởi vì sao. Nếu Bồ Tát bố thí mà không trụ tướng, thời phước đức không thể nghĩ lường được.
  71. Tâm vốn không dao động: tâm hay Bồ đề tâm, xem 71.
  72. Thượng hoàng viên tịch: thượng hoàng Trần Nhân Tông mất ngày 16.11.1308, xem 28.
  73. Đức cù lao:
  74. Thiền: yên lặng, lấy thanh tịnh làm gốc- Nam mô A Di Đà Phật- có nghĩa là trở về với phật A Di Đà, phật A Di Đà lấy thanh tịnh tâm làm gốc- Nam mô A Di Đà phật là trở về với thanh tịnh tâm- tu thiền là trở về với thanh tịnh tâm, xem thêm 80.
  75. Nam tào:
  76. Tháng Chạp năm Tân Hợi (1311) vua Trần Anh Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành, chia làm 3 đạo theo đường núi, đường bộ, đường biển, cùng tiến có các Đại tướng và Đại thần cùng đi: Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão.giữa năm 1312 thì bắt vua Chiêm là Chế Chí đem về Đại Việt.
  77. Năm 1318 (lúc đó Chế đa Da được 11 tuổi) vua Trần Minh Tông sai Trần Quốc Chẩn cùng Phạm Ngũ Lão đem quân đi đánh Chiêm Thành lần thứ 2- vua Chiêm là Chế Đà A Bà Niệm ( còn gọi là Chế Năng, là anh cùng cha khác mẹ với Chế Đa Da), chạy sang nước Qua Da (trong quần đảo Mã Lai- Indonexia). Quân trân lập tù trưởng A Nan làm Á Vương Chiêm Thành rồi rút về.
  78. Vua Trần Anh Tông và Trần Quốc Chẩn là anh ruột của Huyền Trân công chúa, là cậu ruột của thế tử Chế Đa Da .
  79. Năm 1314 vua Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng nhường ngôi vua cho thái tử Trần Mạnh tức là vua Trần Minh Tông . Minh Tông và thế tử Chế Đa Da là anh em cô cậu ruột với nhau.
  80. Năm 1326 (năm Bính Dần) vua Trần Minh Tông sai Trần Đại Niên đi đánh Chiêm Thành, không thắng rút về.
  81. Na đề: vị tổ thứ 22 là Ma-noa-la đầu thế kỷ thứ 9 sau khi Phật nhập Niết Bàn là thái tử nước Na- Dề trước khi thị tịch ngài có làm một bài kệ:
    Tâm tùy vạn cảnh chuyển
    Chuyển xứ thật năng u
    Tùy lưu nhân đắc tánh
    Vô hủy diệt vô ưu
    Dịch:
    Tâm theo muôn cảnh chuyển
    Chỗ chuyển thật kín sâu
    Theo dòng nhận được tánh
    Không mừng cũng không lo
  82. Mưa ngâu:
  83. Vi trần: Đức Phật hỏi: "cõi tam thiên đại thiện thế giới có bao nhiêu vi trần; Phải là nhiều chăng?- Thế giới do vi trần mà họp lại tạo thành - vi trần lặng không, không có hình tướng chưa thật.
  84. Vạn vật vô thường: vô thường là sự chuyển biến liên tục vô ngã: là nguyên lý tương quan tương duyên giữa sự vật vì không thấy được tính vô thường và vô ngã của sự vật nên con người mới khổ đau.
  85. Kinh hành: đi kinh hành là đi bách bộ trong thiền đường hoặc quanh thiền thất, bước đi thong thả, nhẹ nhàng, mắt nhìn xuống phía trước khi đi có thể thiền quán.
  86. Giải thoát: ra khỏi, tách ra khỏi, không vướng, không trụ, không chấp,không tướng, không pháp.
  87. An nhiên: an nhiên tự tại, người đã giải thoát, người đã giác ngộ.
  88. Kinh giải thoát: có 4 tướng: tướng ngã là cái giả tướng của thân con người, người đời chấp nhận lấy nó đó gọi là cái Ta. Tướng nhơn: người khác, đối nghịch với cái Ta là người khác. Tướng chúng sanh: chỉ các loài cầm thú, côn trùng, loại có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng và tưởng tho giả: tướng của sanh mạng tiếp nối sống còn trong một thời gian lâu.
  89. Duyên khởi: do lai, nguyên thủy của sự việc.
  90. Quán sát: nhìn thấy thông suốt.
  91. Phật nói: "Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh như lộ, diệc như điểu, ưng tác như thị quán" nghĩa là "tất cả pháp hư vi như chiêm bao như ảo thuật, như bọt nước, như cái bóng, như giọt sương, như ánh chớp. nên quan sát như thế." có nghĩa là không nên chấp trước có cái gì cả.
  92. Đoạn diệt: dứt bỏ, dứt sạch sắc tướng nghiệp tướng pháp tướng.
  93. Mật khế:
  94. Thâm ngô diệu tâm quán pháp: giác ngộ được các pháp.
  95. Ngày 15 tháng giêng năm Quý Tî 13 tháng 2 năm 1283 Toa Đô hạ lệnh tấn công Thành Gỗ


HỒ ÐẮC DUY
285 U2 CÁCH MẠNG THÁNG 8 St
Ward 12 , District 10 , HCM City Viet Nam
Tel (848) 8 . 659 . 244
Email : hodacduy@saigonnet.vn