Huyền Trân Công Chúa !
Đó là tên một con đường của Huế ngày xưa nên thơ nằm giữa một ngọn đồi thấp xanh mướt những tàng cây và sông Hương thâm trầm mơ mộng . Con đường cứ thế chạy mãi chạy mãi cuối cùng gặp một bức trường thành bằng đất đỏ chắn ngang gọi là Thành Lồi , chứng tích một thời vàng son của vương quốc Champa , Người Huế chọn tên Công Chúa để đặt tên cho con đường vô tình hay hữu ý đã lồng lấy số phận đầy kịch tính của một trang quốc sắc thiên hương lên số phận của con đường chăng ?
Còn ở Sàigon con đường mang tên Huyền Trân hầu như không có nhà , thật ngắn với những hàng cây cao vút , nằm sau lưng dinh Norodome . Đêm đêm con đường vắng vẻ chính là nơi hò hẹn của những cặp tình nhân nên một thời nó được mệnh danh là con đường của tình yêu và tội lổi !
Dư luận và một số sử gia lại gán ghép tên nàng vào một uẫn tình không có thật,đúng hơn là một mối ô nhục khi bảo rằng nàng đã tư thông với Trần Khắc Chung !
Tư thông là một từ mô tả việc quan hệ tình dục có sự dồng ý của cả hai phía một cách bất chính.
Bài viết này sẽ nêu ra những luận chứng mang tính khoa học không chỉ đễ minh oan mà còn đòi hỏi lịch sử phải trả lại sự vẹn tòan phẫm giá và tấm lòng trung trinh, danh dự không những cho công chúa, Thượng hòang Trần Nhân Tông cha của nàng và cả triều đình bấy giờ mà lẻ ra hậu thế phải tri ân thay vì ngộ nhận
Trần Khắc Chung là ai ?
Đại Việt Sử Ký Tòan Thư (ĐVSKTT) trang 64,113 chép : Trần Khắc Chung tên thật Đỗ Khắc Chung người ở Giáp Sơn cùng quê với mẹ của vua Trần Hiến Tông và cũng là thầy dạy học của hai vì vua Trần Minh Tông , Hiến Tông.
Năm Ất Dậu, Thiệu Bảo năm thứ bảy (1285) .Khắc Chung làm Chi hậu cục thủ có em ruột Đỗ Thiên Hư cũng là một người nổi tiếng đương thời từng được cử làm Sứ thần sang Nguyên năm 1288.
Đỗ Khắc Chung lấy Bảo Hòan. Khỏang đời Trùng Hưng, người Nguyên vào cướp, cha mẹ Bảo Hòan hàng giặc, ruộng đất, tài sản đều bị tịch thu sung công. Đến khi vua lên ngôi, xuống chiếu trả lại.
Mùa hạ tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289) Ông là một trong những người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 được vua ban quốc tính nên đổi là Trần Khắc Chung và được phong chức Đại Hành Khiển ( tương đương chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ ngày nay) vào năm 1289 là lúc công chúa Huyền Trân vừa chào đời . Người đời đều khen ông là giỏi. Mất năm 1330 cùng với Trần Nhật Duật , được tặng chức Thiếu Sư một chức đứng hàng thứ hai thời bấy giờ , được đưa về an táng ở Giáp Sơn .
Ông đã giữ nhiều chức vụ khác nhau và quan trọng trong suốt bốn triều đại (Trần Nhân Tông , Trần Anh Tông , Trần Minh Tông , Trần Hiến Tông) , Ông đã từng là thuyết khách , Tể tướng, Thượng Thư , Ngự Sử đại phu, Đại an phủ kinh sư , Quan Nội Hầu , Sư Bảo và là sứ giả cùng với An Phủ Sứ Đặng Vân chỉ huy chiến dịch cứu thóat Công Chúa Huyền Trân ,..
Ông là một người tu theo đạo Phật , môn phái Thiền tông , là người viết lời bạt cho tập "Tuệ Trung Thượng sĩ" do nhà sư Pháp Loa biên tập và vua Trần Nhân Tông hiệu đính.
Ông thường được các vua Trần hỏi ý kiến và kính trọng, là cột trụ của nhiều triều đại hiễn hách đời Trần, sống cùng thời với vua Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo ,Trần quang Khải , Phạm ngũ Lão , Mạc đỉnh Chi.....
Ntilde;ánh giá về Trần Khắc Chung ĐVSKTT trang 52 chép rằng Vua (Hòang Đế Trần Nhân Tông) mừng nói rằng: " Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký như thế!" ( Ngựa kỳ, ngựa ký là chỉ những lọai ngựa quý, ngựa tốt )
Còn Ô Mã Nhi là một tướng của quân Nguyên thì bảo với các các tướng dưới quyền rằng:"Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xuống là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối . Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được " (ĐVSKTT trang 52)
Lai lịch Vua Chiêm Thành Chế Mân
Chế Mân là con trưởng của vua Jaya Indravarman V, là anh cả trong gia đình có 5 con trai ( Kinh thế đại điễn tự lục -NS , tờ 5a quyển 210 )
Trong cuộc kháng chiến của dân tộc Chiêm Thành chống lại quân xâm lược Mông Cổ vào các năm 1282 -1285 thì tất cả mọi quyền hành và các quyết định quan trọng nhất đều ở trong tay Chế Mân vì vua Chàm đã già rồi . Chế Mân là Đại tướng cầm quân Champa đánh nhau với quân Toa Đô ở Vijaya ( Qui Nhơn ) Kinh đô của Champa , một vị anh hùng trẻ tuổi của dân tộc Champa
Trong tác phẩm Cuộc Kháng Chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn- Phạm thị Tâm, trang 130 dẫn chứùng từ Nguyên Sử quyển 12, bản kỷ tờ 3b trang 4a đã viết về Chế Mân như sau : " ... Ngày 16 tháng 7 năm 1282 Hốt tất Liệt ra lệnh điều động 5 nghìn quân của các tỉnh Hòai Triết Phúc Kiến..100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô chỉ huy chuẩn bị đánh chiếm Chiêm Thành...Một trong những người cương quyết chống lại âm mưu xâm lược của Hốt tất Liệt là thái tử Harijit ( Chế Mân ) con vua Indravarman V.. Lúc bấy giờ vua Chiêm đã già . Chế Mân nắm tất cả trọng trách trong nước. "
Marco Polo trong " Đến Chiêm Thành năm 1285" có viết : " Vua Jaya Indravarman V chống cự với Toa Đô trong các thị trấn và thành quách vững chắc, ông không sợ gì cả..." Và Marco Polo nhận định về Chế Mân ".... một người thanh niên anh hùng đó đã không chịu lùi bước trước kẻ thù ".
Trong Chiêm Thành truyện trang 4a của Nguyên Sử thì đánh giá Chế Mân như sau " Chế Mân con vua Chiêm chuyên giữ việc nước , cậy hiểm không phục "
Trong Kinh thế đại điển tự lục tờ 570 Chép lời Hốt Tất Liệt nhận định về Chế Mân như sau..." Lão Vương (Indravarman V) không có tội gì , kẻ nghịch mệnh là con (Chế Mân) của y , nếu bắt được thì cứ theo như việc cũ của Tào Bân, trăm họ không giết một người "
Trong An Nam truyện của Nguyên Sử , quyễn 209 trang 5b chép "...ngày 16 tháng 4 năm 1284 . An phủ Sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt nghe Trịnh thiên Hựu nói rằng Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành , sai 20000 quân và 500 thuyền ứng viện. Vua Trần nhân Tông lại gởi thư đến hàng tỉnh , đại lược nói Chiêm thành nội thuộc tiểu quốc, đại quân đến đánh thật đáng xót thương "
Xem như vậy giữa Vua Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có một sự gắn bó ,liên kết với nhau trong một liên minh chống lại trong mưu đồ đánh chiếm vùng Đông Nam Á của quân Mông Cổ
Tiểu sử của Công Chúa Huyền Trân
Công Chúa là con gái út của vua Trần Nhân Tông là em ruột của vua Trần Anh Tông và Quốc phụ thượng tể Trần quốc Chẩn , nàng sinh vào khỏang năm Kỷ sửu Trùng Hưng năm thứ 5(1289) năm mà Trần Hưng Đạo dùng kế để giết Ô Mã Nhi
Năm 1306 gả Công chúa Huyền Trân thì Thượng hòang Nhân Tông (1258-1308) khỏang 47 tuổi , vua Anh Tông (1276-1320) ở tuổi xấp xỉ 30 và Công chúa độ 18 , vua Chế Mân vào khỏang 35 đến 40 và Trần Khắc Chung 40-50.
Sở dĩ tính được như vậy vì trong cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của Vương quốc Champa vào năm 1283 thì Chế Mân đã là Thái Tử cầm quân Champa đánh nhau với quân Toa Đô ở Thành Gỗ gần Kinh đô Vijaya của Champa , còn Trần Khắc Chung lúc nhận nhiệm vụ thuyết khách , đi gặp tướng Mông Cổ Ô Mã Nhi vào tháng giêng năm 1285 ít nhất cũng phải trên 20 tuổi . Ở thời điễm gã Công chúa Huyền Trân, Trần Khắc Chung khỏang 40 đến 50 tuổi
Diễn biến của cuộc hôn nhân giữa vua Chàm Chế Mân và Công Chúa Huyền Trân
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 556 chép : Tháng ba năm Tân Sửu (1301) Thượng Hòang Trần Nhân Tông sang chơi Chiêm Thành . Thượng hòang xuất gia ở núi Yên Tử , thường muốn đi chơi xem khắp núi sông nhân du lịch đến một địa phương tiện đường sang chơi Chiêm Thành ( có hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân).
Sách Biên Niên Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam chép : " Tháng hai năm Ất Tî (1305) Sứ bộ Chế Bồ Đà của vua Chiêm Thành đến dâng lễ vật cầu hôn vì Thượng Hòang Nhân Tông năm 1301 sang chơi Chiêm Thành đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm thành Chế Mân "
Còn ĐVSKTT trang 86 viết : " năm Ất Tî Hưng Long năm thứ 13 (1305), Mùa xuân, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn. Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành việc đó mới quyết."
Năm Bính Ngọ Hưng Long năm thứ 14 (1306) Mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân.
Ntilde;VSKTT trang 91 viết : " Năm Đinh Mùi Hưng Long năm thứ 15 (1307) Mùa hạ, tháng 5, Chế Mân chết.
Mùa thu, tháng 9 Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng .
Mùa đông, tháng 10, sai Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa và thái tử Đa Đa về.
Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô thì Sĩ trang 408 chép Mậu thân Hưng Long năm thứ 16 (1308) mùa đông tháng 11 ngày mồng một , mặt trời có hai quầng. Thượng Hòang băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử...Nhân Tông làm thiên tử lại làm Thái Thượng hòang đi tu lên núi, ở am rồi mất ..Việc trong thiên hạ có gì lớn hơn việc ấy ...
Trong Đại Việt Sử Ký Tòan Thư có đọan chép như sau: Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng tang và nói với người Chiêm :"Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu" Người Chiêm nghe theo Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quoanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô.
Sau chiến thắng quân Nguyên ,tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) Thượng Hòang Nhân Tông cất quân đánh Ai Lao như một lời nhắn nhũ các quốc gia trong vùng, và nếu ông muốn xâm chiếm các nước khác thì không phải là chuyện không làm được . Bấy giờ các quốâc gia này mỗi năm đều có triều cống cho Đại Việt . Cho nên việc Thượng Hòang Trần Nhân Tông gã Công Chúa Huyền Trân cho Vua Champa ngòai việc thắt chặc bền vững thêm mối dây liên kết, tạo thêm sự hòa hiếu giữa hai nước, chắc chắn Thượng hòang Nhân Tông một vị anh hùng dân tộc đã từng đánh bại quân xâm lược Mông Cổ hai lần, một nhà ngoại giao khôn khéo, một vị lảnh đạo tài ba và cũng là một vị thiền sư trầm mặc phải có một cái nhìn như thế nào về Chế Mân và hạnh phúc lứa đôi cho người con gái yêu dấu của mình khi ngài quyết định gả Công Chúa cho Vua Champa lúc đó nàng mới lên 12 tuổi.(1301) Sau khi hứa gả Thượng hòang Trần Nhân Tông chắc chắn đã phải sửa sọan cho Công chúa một chế độ giáo dục đặc biệt nhất là về ngôn ngữ phong tục, văn hóa Champa.
Thượng hòang chỉ cho phép thực hiện điều đó khi cô con gái cưng của ông đến tuổi trưởng thành, vững vàng trong cuộc sống chồng vợ và có một số vốn kiến thức văn hóa, phong tục, tập quán cũng như ngôn ngữ Champa .
Không biết Vua Trần Nhân Tông có nghĩ rằng mình trở thành ông ngọai của vị Hòang đế của Champa trong tương lai hay không? Và ông có nghĩ là công chúa Huyền Trân sẽ thực sự trở thành Đệ nhất phu nhân của vương quốc Champa thay thế cho Hòang Hậu vợ vua Chế Mân là công chúa nước Java đã chết trước đó nhiều năm ?
Tháng 6 năm 1306 Chế Mân rước nàng về làm vợ , nàng vừa đúng 18 tuổi.
Tháng 5 năm 1307 Chế Mân chết.
Tháng 9 năm 1307 Công chúa Huyền Trân sinh Thế Tử Chế Đa Da tại kinh đô Vijaya.
Mất một tháng cho chuyến hành trình rước dâu đi từ Thăng Long cho đến Kinh đô Champa thì sớm nhất để công chúa có mặt ờ Champa và chung sống với Chế Mân cũng vào khỏang cuối tháng 7 hay trung tuần tháng 8 năm 1307.
Nếu tính sát sao như vậy , khi Chế Mân qua đời thì Công chúa mang thai được 4 đến 5 tháng.
Theo phong tục vương triều Champa thì lễ trà tỳ cho vua là 7 đến 10 ngày sau khi vua băng hà.
Người ta không hỏa táng đối với phụ nữ đang mang thai, trẻ sơ sinh và những người vị thành niên vì người Bà la môn tin rằng phải chôn để cho những người này về với cát bụi, còn ngưởi trưởng thành thì hỏa táng để cho họ trở về với hư không và đó cũng là lý do mà tại sao công chúa không bị hỏa táng theo Chế Mân.
Tháng 10 , An phủ sứ Đặng Vân và Trần Khắc Chung sang đón Công chúa Huyền Trân, lúc đó công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, công chúa vừa sinh xong tháng trứơc.
Thử phân tích tâm lý và tình trạng hậu sản của công chúa Huyền Trân lúc bấy giờ ta thấy có vài điểm cần lưu ý :
Chồng vừa mới chết.
Sinh con so, sinh con ở một nơi không có ai thân thuộc như mẹ, dì, chị em...ở một xứ có phong tục tập quán sinh nở khác với Đại Việt, điều này gây nên một tâm lý hỏang sợ lo âu cho sản phụ, một ấn tượng sợ hãi có thể kéo dài trong nhiều tháng.
Công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, về phương diện y học thì thời gian hậu sản nầy kéo dài vài tháng đến nửa năm, nếu như cách đây 700 năm với hiểu biết vệ sinh, phòng bệnh và các phương tiện, thuốc men chăm sóc cho một sản phụ sau khi sinh nở thì còn rất lạc hậu , đâu có cắt tầng sinh môn, đâu có trụ sinh, phòng cách ly vô trùng như bây giờ, vả lại đối với công chúa đây là lần sinh đầu tiên trong đời, sinh con so khó khăn gấp nhiều lần sinh con rạ, thời gian để lành vết thương hay rách âm đạo, thời gian để co hồi tử cung, hoặc nhiễm trùng hậu sản và phần phụ có thể kéo dài rât lâu, theo phong tục tập quán của người Việt Nam thời gian "phong long" là 3 tháng 10 ngày, ngưởi ta thường thường có thói quen treo trứớc phòng sản phụ một nắm lá cây có cây xương rồng, dó là một dấu hiệu, nhắc nhở cho người đàn ông biết chỉ được phép vào phòng vợ và tư thông sau khi cây xương rồng này khô đi !!!! đây chỉ là đầu thế kỷ XX mà thôi thì còn ở thế kỷ thứ XIV e rằng thời gian ở cử này còn lâu hơn nữa. Điều đó cho thấy về phương diên thuần túy Y Học khó thể có chuyện tư thông được.
Việc đưa Huyền Trân về Đại Việt có được thông báo cho nàng biết và có sự bằng lòng của nàng hay không ?
VIỆC ĐƯA HUYỀN TRÂN RA BỜ BIỂN CHIÊU HỔN Ở VEN TRỜI, ĐÓN LINH HỔN CÙNG VE À, RỔI SẼ VÀO GIÀN THIÊU" LÀ KẾT QỦA CỦA VIỆC THƯƠNG LƯỢNG GIỮA SỨ GIẢ TRẦÂN KHẮC CHUNG VỚI TRIỀU ĐÌNH MỚI CỦA CHAMPA HAY LÀ MỘT VỤ ĐÀO THÓAT.
Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh và cường thịnh nhất vùng Đông Nam Á. Việc giao hảo Đại Việt Chiêm Thành ở vào một giai đoạn tốt đẹp nhất, hai nước đang cùng chung một chiến tuyến để chống quân xâm lược Mông Cổ. Người Chiêm Thành hiểu rõ hơn ai hết nếu công chúa Huyền Trân lên giàn hoả thiêu để chết theo Chế Man sẽ là một tai hoạ cho họ.
Nhiệm vụ của Trần Khắc Chung và Đặng Vân là phải thương thuyết làm sao cho mối bang giao giữa hai nước vẫn tốt đẹp màø phải đem công chúa về nước thật an toàn nhưng không làm thương tổn đến truyền thống đạo lý tôn giáo của Champa.
Giải pháp nào là giải pháp phù hợp nhất ắt có và đủ cho hai điều kiện đó mà không gây tổn thương cho hai nước.?
Vậy , đưa công chúa ra biển cầu hồn cho Chế Mân và làm lễ trà tỳ cho công chúa Huyền Trân là giải pháp tốt đẹp nhất vừa thực hiện đúng theo truyền thống Champa, vừa tiện lợi cho Trần Khắc Chung đưa công chúa về bằng đường biển.
Giải pháp này cũng sẽ hợp lý nhất để cho thế tử Chế Đa Da ở lại Chiêm quốc vì Thế tử là con vua Chế Mân và là một Hòang tử của Champa.
Chiêm Thành là một quốc gia có một dãi bờ biển khá dài, thạo về thủy chiến và có một đội chiến thuyền rất hùng hậu, điều đó có thể thấy được khi Chế Bồng Nga tấn công Đại Việt bằng thuyền chiến. Thuyền chiến của họ vào tận Thăng Long. Nếu Khắc Chung dùng thuyền nhẹ để cướp thì liệu có dễ dàng vượt qua được hàng rào hải thuyền của Chiêm Thành không ?
Việc đào thoát bằng đường biển liệu có an toàn cho sức khỏe công chúa hay không?
Thuyền của Khắc Chung nếu có thì đang ở trong vịnh Quy Nhơn (còn gọi làThi bị thì nại hay Thị Nại) trước mặt kinh đô Vijaga như vậy là Khắc Chung đã vào sâu trong hải phận của Champa ít nhất là 600 cây số lúc đó (1285) biên giới của Chiêm Thành là tại Quảng Bình ngày nay.
Nếu có việc đánh tháo thì chắc chắn là có thể có sự rượt đuổi. Và liệu Khắc Chung có vượt qua một cách an toàn khi đi ngang qua cửa Quy Nhơn và các quân cảng của Chiêm Thành ở vùng Đại Lãnh, Hải Vân, Cửa Việt hiện nay trước khi về Thăng Long ?
Và nếu đi dùng dằng cả mấy tháng thì có bị săn đuổi hay lấy lương thực, thực phẩm và tiếp tế ở đâu ?
Di chuyển bằng thuyền, đi trên biển đâu có phải nhẹ nhàng an toàn như trên sông hay trên mặt hồ !
Câu" Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quoanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô "Câu này có vẻ như là câu trong tiểu thuyết trữ tình hơn là xảy ra trên thực tế. Nếu đem phân tích trong một điều kiện thực tế thì qủa là thật gay cấn, riêng một chuyện tiếp tế lương thực, thực phẩm nước uống hay chống chọi lại một vài cơn bão, gió đổi mùa kiểu cấp 4, 5 là đủ xanh mặt rồi.
Thuyền chở công chúa với kỹ thuật đóng tàu thời bấy giờ có thể chịu nỗi để khỏi bị chìm ?
Công chúa có bị say sóng không? Công chúa có thể dung dăng dung dẻ và tính chuyện tư thông ?
Với một số dữ kiện mà chúng tôi đưa ra thì có thể hình dung rằng khó có thể có chuyện tư thông giữa công chúa Huyền Trân và Nhập Nội Hành Khiển Thượng Thư Tả Bộc Xạ Trần Khắc Chung được.
Nhưng tại sao ĐVSKTT lại chép chuyện này và sử thần Ngô sĩ Liên lại lên án Trần Khắc Chung môt cách quá nặng nề ?
Trong ĐVSKTT trang 92 Ngô sĩ Liên viết : " Thói gian tà của Trần Khắc Chung thật là quá quắt lắm! Không những hắn giỡ trò chó lợn ở đây mà sau này còn hùa vào với Văn Hiến vu hãm quốc phụ thượng tể vào tội phản nghịch, làm chết oan đến hơn trăm người. Thế mà hắn được trọn đời phú quý. Khổng Tử nói: "Kẻ gian tà được sống sót là may mà được thóat tội chăng?"
Song sau khi hắn chết, gia nô của Thiệu Vũ Vương đào xác hắn lên mà vằm nhỏ ra thì lời thánh nhân càng đáng tin."
Hoặc ở trang 114 Ôâng lại lên án một lần nữa : " Còn như Khắc Chung cũng là nhân vật của một thời, vua trao cho hắn chức vị sư bảo, và đem việc nước hỏi hắn, đáng lẽ phải hết lòng trung khuyên can, để cho vua mình trở thành Nghiêu Thuấn mới phải. Thế mà lại hùa vào với kẻ quyền quý làm hại người ngay thẳng, đi theo bọn gian tà, đẩy người lành đến nỗi oan khiên, hãm đức vua vào việc tội lỗi. Việc ấy mà nhẫn tâm làm được, thì còn việc gì mà không nhẫn tâm làm nữa. Sau lại xui vua cầu công đi đánh Chiêm Thành, thì cái thói nịnh hót lại hiện ra nữa. Cho nên bậc làm vua khi chọn người hiền phải xét kỹ họ, là bởi sợ rằng có đứa tiểu nhân như bọn Trần Khắc Chung có thể lọt vào trong đó vậy.
Chúng tôi xin hẹn kỳ sau sẽ tham luận tiếp . Một số câu hỏi chúng tôi muốn các bạn lưu ý là các đọan viết về sự kiện Huyền Trân ở trong: