CUỘC CHIẾN ÐẤU CHỐNG
BỆNH ÐẬU MÙA
CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG
Báùc sĩ HỒ ÐẮC DUY
·
Bệnh Ðậu mùa và nổi khổ đau của
Hải Thượng Lãn Ông.
·
Edward Jenner, Hải Thượng Lãn ÔÂng
sinh ra và lớn lên trong cùng một thế kỷ.
·
Hai người đã góp phần quan trong trong
việc đẩy lùi căn bệnh này.
|
Ðối
với Hải Thượng Lãn Ông thì bệnh đậu mùa là một nỗi ám ảnh khôn
cùng. Suốt cả cuộc đời của ông thì nỗi ám ảnh đó đeo đẳng như
bóng với hình. Trong một trước tác vĩ đại của Hải Thượng "Y
Tông Tâm Lĩnh" gồm 66 cuốn thì có đến 10 cuốn ông viết về
bệnh đậu mùa. Bệnh đậu mùa đã giết chết đứa con trai lên 5 tuổi
của ông và giết luôn đứa học trò thân thiết của ông. Bệnh đậu
mùa đã ghi một dấu ấn khổ đau trong đời ông. Ta hãy nghe ông tâm
sự: "Tôi
có đứa con 5 tuổi, bị bệnh đậu mùa, gặp thầy thuốc chữa sai, không
khỏi khóc lóc buồn rầu mở sách đọc trong cơn đau xót . than ôi!
bọn điếc đui giết con tôi không đáng nói nữa, trời đất quỷ thần
ôi, sao mà oan uổng thế ! Ðáng tiếc là số mệnh tôi rất gian
truân, mới được đứa con quýù hiếm, mắt đẹp mày xanh, trong việc
chơi đùa chỉ lấy sách vở bút nghiên làm thích, viết chữ thành
dòng, các ca dao, ngạn ngữ, chuyện kể. Nhiều câu dài nghe qua một
lần là đã nhớ, nói năng cười đùa đều có nghĩa lý, có văn vẽ.
Có dạng thơ, câu đối . làng xóm cho là lạ. Tôi đau xót như xé gan
đứt ruột, đi đứng nằm ngồi mất cả thăng bằng, như ngây như dại
gần nửûa năm mới hơi nguôi tỉnh". Ở
trường hợp khác, ông viết :"Tôi nghe xong không kịp xem mạch,
vội lấy Ðại tể Sâm phụ cho uống, vừa đổ được một chén nhỏ, đờm
kéo lên rồi tắt thở. Án bệnh này, đáng tiếc cho tôi hơn là vất
vả, tốn hết bao nhiêu công sức và thuốc men. Nghĩ đến tình mẹ quá
con côi, chỉ có một người con ấy, hơn mười năm nay nương tựa ở tôi
làm học trò, vất vả bao phen, hết lòng làm việc, cho nên chứng tuy
mười phần hung hiểm, không kể gì thành hay bại, chỉ hết sức cứu
vãn, công trình đắp núi lúc đã gần xong ! Ðương dữ chuyển lành,
đương lành hóa dữ, chứùng đáng như thế chăng? hoặc là thuốc không
đúng chăng ? Xin ghi lại đây để hỏi các bậc cao minh". Trong lịch sử Y học dân
tộc nước ta, Hải Thượng Lãn Ông chiếm một vị trí khá quan trọng,
ông thật sự là một danh y của đất nước. Ông tên thật là Lê Hữu
Trác, sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý. Nguyên quán ở thôn Văn
Xá, làng Liêu Xá, huyện Ðường Hào, phủ Thượng Hồng , tỉnh Hải
Hưng, mất ngày Rằm tháng Giêng, năm Tân Hợi (1791) ở quê mẹ, xứ
Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tỉnh , thọ 71
tuổi. Xuất thân từ một gia đình
khoa bảng. Ôâng nội là Lê Hữu Danh, đậu nhị giáp Tiến Sĩ. Cha là
Lê Hữu Mưu, đậu đệ tam giáp Tiến Sĩ . Ôâng là con thứ bảy, theo cha
lên ở kinh thành Thăng Long . Hồi nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh,
học giỏi hiểu rộng, thơ hay. Không may đến năm 20 tuổi (năm 1739),
cha mất, ông tiếp tục đọc sách, thi tam trường,thi hỏng sau đó
không đi thi thêm lần nào nữa. Ông học binh thư, luyện
võ, vào quân đội chúa Trịnh năm 1740. Thống tướng của chúa Trịnh
muốn cất nhắc, nhưng ông không ham, lấy cơ nọ cớ kia mà từ chối.
Nhân có tin người anh ruột là Lê Hữu Chân chết để lại 3 con nhỏ,
ông xin xuất ngũ về quê nuôi mẹ là bà Bùi Thị Thưởng, và giúp
đỡ gia đình người anh. Qua gần 40 năm, ông tổng
kết tinh hoa của y học Trung Quốc và Việt Nam,và biên soạn bộ
"Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh" gồm 28 tập, 66 cuốn. Ôâng nói
:" Ðạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính
mạng người ta, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ
lấy việc giúp người, làm phận sự của mình mà không cầu lợi kể
công". Câu nói này phát xuất từ nỗi đau mà ông gặp phải khi
con trai và người học trò thân thiết của ông chết vì bệnh đậu
mùa. Từ rất sớm trước Công Nguyên,
trong lịch sử Trung Hoa, người ta đã ghi nhận bệnh này, người Trung
Hoa đã biết thổi các bụi vẩy của mụn đậu mùa vào mũi trẻ em, ơÛ
Ấn Ðo,ä người ta đã cho trẻ em mặc quần áo của những người bị bệnh
đậu mùa để phòng bệnh. Ở thế kỷ thứ 6, thứ 7, thứ 10 và thứ 17,
bệnh đậu mùa diễn ra ở Châu Phi, Pháp, Ai Cập, Châu âu đã làm
thiệt mạng gần chục vạn người. Ở Mỹ, bệnh đậu mùa được dập tắt
từ năm 1926 và trường hợp bệnh đậu mùa xuất hiện vào tháng 9 năm
1978 tại nước Anh, bệnh nhân là một nhân viên của phòng thí nghiệm
bị bệnh do tai nạn nghề nghiệp. Những dấu ấn của bệnh
đậu muà trong lịch sử nước ta thì bộ Quốc triều Chánh Biên của
quốc sử quán triều Nguyễn có ghi tháng 4 năm Canh Thân (1800) vua
Gia Long khi đem quân cứu viện ở Bình Ðịnh đã chỉ định Hoàng Tử Cảnh
(1780 - 1801) ở lại trấn giữ tỉnh Gia Ðịnh đến tháng 2 năm sau (1801)
Hoàng tử Cảnh chết vì bệnh đậu mùa. Hoặc bản thân vua Tự Ðức
cũng bị bệnh đậu mùa. Tháng 6 năm Nhâm Ngọ (1882) vua Tự Ðức cử
Cửu Phẩm Y Sinh Nguyễn Văn Tâm qua Hương Cảng học cách thức chủng
ngừa bệnh đậu mùa tại y viện Ðông Ba. Ý niệm tiêm chích để
chủng ngừa bệnh đậu mùa được coi là một phát kiến sớm nhất ở
vùng Trung Ðông, Thổ Nhỉ Kỳ. Vào những năm 1713 - 1716, hội Hoàng
Gia Anh nhận được thông báo giữa Emnanuel Timoni và Giacomo Pilarini
và sau đó của Hans Sloane từ Thổ Nhỉ Kỳ đề cập đến phương pháp
tiêm chích này. Năm1780 Genner (1749-1823) đã nhận thấy có loại đậu
bò thật với những mụn mũ đặc thù ở núm vú bò, chỉ những người
mắc bệnh này mơí có khả năng phòng được bệnh đậu mùa còn những
dạng đậu bò khác không có khả năng phòng bệnh. Hơn nữa, chỉ một
giai đoạn phát triển nhất định, mụn mũ đậu bò mới có khả năng
phòng bệnh khi tiêm chủng vào người lành cho mãi đến năm 1798 thì
công trình nghiên cứu của ông mới được chấp nhận. Phương pháp
chủng đậu của Genner nhanh chóng được phổ biến khắp Âu Châu, rồi
lan đến Ấn Ðộ, Trung Quốc và Hương Cảng . Thời
điểm Hải Thượng Lãn Ông hoàn thành tập Mộng Trung Giác Ðậu thì
bên kia trời Âu Edward Jenner cũng vừa khám phá và hoàn chỉnh phương
pháp chủng ngừa bệnh đậu mùa. Khó
có một tác giả nào nghiên cưú về bệnh đậu mùa trên thế giới
quan sát kỷ bằng ông về phương diện lâm sàng .Trong sách Mộng Trung
Giác Ðậu ông đã viết như sau : Bệnh Ðậu phát sốt rồi thì đậu mới
mọc ra , nhanh nhất là một ngày, trung bình là ba ngày, chậm nữa là
5, 6 ngày mà thôi. Về
cách soi đèn để quan sát mụn đậu ông viết : "Lấy giấy bản
cuộn lại thành điếu (thoi dài), tẩm dấu vừng cho thấm hết rồi hong
khô, đến khi dùng lại tẩm thêm dấu mè rồi hơ qua lại trên ngọn
đèn khiến cho dầu không sủi giỏ giọt để khỏi gây phỏng. Khi soi
phải đóng kín các cửa sổ, cửa ra vào, cho trong nhà thật tối. Muốn
soi ở bên trái thì đưa ngọn đèn sang bên phải, muốn soi bên phải
thì đưa ngọn đèn sang bên trái. Muốn soi chỗ trên hay chỗ dưới thì
cũng theo cách ấy. Ðậu nhiều hay ít, màu sắc ra sao đều có thể
thấy được. Lại dùng tay mà sờ, nếu thấy lằn sờ theo tay màu hồng
đổi sang màu trắng, hoặc màu trắng đổi sang màu hồng, chứng tỏ
huyết hoạt thì có cơ sống được. Nếu sờ vào không trắng, nhấc tay
không thấy hồng chứng tỏ huyết khô thì tuy đậu mọc khô cũng là
chứng nguy. Vì
mụn sởi mọc nông ở ngoài da mà ở phía trong không có gốc. Mụn
đậu có gốc ở tầng thịt, gốc rất sâu, cho nên lấy tay sờ có thể
thấy được hạch gốc của mụn đậu mà nghiệm biết. Quan sát dưới ánh
nắng mặt trời không thể thấy dược. Lấy lửa soi mà trẻ lên kinh co
giật, gào khóc cũng là chứng hậu của đậu. Vì hỏa của Tâm mạch
qúa, lại gặp hỏa (lửa) ở ngoài mà gây nên chứng sự như vậy.
Cách chữa nên lợi tiểu nhẹ để dẫn hỏa ở Tâm đi xuống, nếu không
thì kinh giật lại nặng hơn lên. Tôi
có một phép quan trọng có thể xem biết đậu lành dữ, càng làm
càng thấy đúng. Lúc soi, đưa đèn trên mụn đậu, nếu thấy sắc của
mụn đậu và ánh sáng của đèn phản xạ lại nhau, theo ánh sáng đèn
qua lại, mụn đậu lấp lánh như có vẻ chuyển động. Trong
quyễn ÂM Y ÁN thì có đến hai bệnh án tử vong về đề tài bệnh đậu
mùa , một là trường hợp bệnh nhân là học trò thân yêu của ông,
trường hợp khác là một bé gái hai tuổi ở gần nhà ông . Bệnh đậu
mùa hình như lúc nào cũng đeo đẳng ,ám ảnh ông sau cái chết thảm
khốc của đứa con trai lên 5. Hải
Thượng Lãn Ông là một bậc danh y của nướùc ta, ngoài Y Ðức và
những hiểu biết sâu sắc về y lý cổ truyền ,về dược thảo, về vệ
sinh thường thức. thì dưới mắt những thầy thuốc là bác sĩ Tây y khi
đã đọc được qua tác phẩm, nhất là quyển Mộng Trung Giác Ðậu của
ông mới thấy ông là một trong những nhà Triệu Chứng Học vĩ đại
cùa thế giới qua công trình nghiên cứu này. |
Bác sĩ HỒ ÐẮC DUY