LỜI THỀ CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

BS HỒ ÐẮC DUY

 

·        Trước cái chết của con trai, Lãn Ông đã đau đớn như thế nào?

·        Bệnh Ðậu muà và công trình nghiên cứu bậc Ðại Y Tôn VN

·        Lãn Ông đã nhắn nhủ gì trong một bệnh án tử vong

 

Giáo Sư Hồ đắc Di ,Hiệu trưởng Trường Ðại Học Y Khoa Hà Nội năm 1970 trong bài"Những bài học lớn của Hải Thượng Lãn Ông đối với người cán bộ Tây y" ông đã viết về Haỉ Thượng Lãn Ông như sau : "... xuất thân từ một gia đình quyền quý thời bấy giờ, cha ông từ đời này sang đời khác lấy khoa mục làm bước thang danh vọng. Lãn Ông có thể nối gót cha ông để cầu công danh phú qúy - nhưng sớm có tư tưởng tiến bộ. Lãn Ông đã gạt bỏ tất cả quyền cao chức trọng, chọn nghề y mà tư tưởng thời bấy giờ còn coi rẽ. Lãn Ông từ chối mọi quyến rũ của bọn vua quan đương thời, từ chối chức quan, chức tướng để cống hiến cuộc đời mình cho nghề làm thuốc. Chính vì lòng tha thiết yêu nghề ấy mà Lãn Ông đã suốt đời phấn đấu cho mục tiêu duy nhất là : "chỉ muốn người đời không có bệnh".

Ðó có thể coi như tư tưởng chính của Hải Thượng Lãn Ông. Nhưng chúng ta phải ngậm ngùi khi đọc những lời tâm sự đầy nước mắt do chính ông viết trong lời tiểu dẫn phần đầu của một bộ gồm 10 cuốn" Mộng trung giác đậu". Ông viết :"Tôi có đứa con 5 tuổi, bị lên đậu mùa, gặp thầy thuốc chữa sai, không khỏi khóc lóc buồn rầu mở sách đọc trong cơn đau xót. Con 5 tuổi của tôi ở huyện Hoài an, xã Nguyên xá, ngày 9 tháng 3 năm Mậu dần bị lên cơn đậu có triệu chứng huyết hư huyết nhiệt kiêm khí hư. Nghe nhằm một thầy thuốc (gọi là bác Ðỉnh, người xã Cam tuyền, huyện Thanh oai) ông ta suốt đời tính hay khôi hài, nói năng biện luận như nước cháy, cho nên làm chết người mà không tỉnh ngộ. Khi đó ông ta cho uống thuốc thanh nhiệt giải độc, uống liền 6,7 thang thì sốt lui, tinh thần tỉnh táo, đại tiểu bình thường. Ðến 6,7 ngày, nốt đậu mưng mủ đầy mủ, đầu nốt đậu xung huyết nổi cao, quanh chân nối đậu rõ ràng, cho là kết qủa mỹ mãn, đến 8,9 ngày bỗng sốt cao, mê man nói sảng, ông ta cho rằng dư độc chưa hết, cho uống thêm mấy thang thanh giải nữa, chua kiến hiệu bèn dùng ngay Ðại hoàng đế công hạ, mới uống xong hai thang thì sốt lui mà hàn chứng sinh ra ngay, ngoài thì nốt đậu lõm xuống màu xám tro, trong thì rét run, nghiền răng, ỉa tháo ra lãi, ông ta thấy thế bệnh chuyển biến xấu bèn kiếm cớ rút lui, tôi tức tốc đi mời mấy thầy thuốc khác, nhưng cũng đều là hạn tầm thường không giải quyết nỗi bệnh này, lại đi mời một danh y ở xa nữa, nhưng cách chữa và dùng thuốc thì chỉ theo cách chữa bệnh thông thường không phải là tay giỏi, đến ngày 25 thì con tôi mất !

Than ôi! Bọn điếc đui giết con tôi không đáng nói nữa, trời đất qủy thần ôí! Sao mà oan uổng thế ! Ðáng tiếc là số mệnh con tôi rất gian truân, mới được đứa con qúy hiếm, mắt đẹp mày xanh, trong việc chơi đùa chỉ lấy sách vở bút nghiên làm thích, viết chữ thành dòng, các ca dao ngạn ngữ, chuyện kể, nhiều câu dài nghe qua 1 lần là đã nhớ, nói năng cười đùa điidu có nghĩa lý, có văn vẻ, có dạng thơ, câu đối . làng xóm cho là lạ. Tôi đau xót như xé gan đứt ruột, đi đứng nằm ngồi mất cả thăng bằng, như ngây như dại gần nữa năm mới hơi nguôi tỉnh.Từ đó, tôiù quyết tâm học thuốc, tìm khắp các thầy thuốc ở kinh thành, ở vùng nông thôn có ít nhiều tiếng tăm giỏi về môn đậu, đều không tiếc công tìm học đến vài mươi nhà, nhưng cuối cùng sở đắc đều chỉ là một số khuôn sáo cũ, thì tôi quay về Hương sơn nuôi mẹ đọc sách, đóng cửa không tiếp khách, dốc lòng học Hiên Kỳ Hoàng Tố đến nay mười lăm năm ."

Có thể nói là Lê Hữu Trác đau khổ vì cái chết của đứa con trai yêu dấu và quyết tâm vào ngành y mong rằng đem cái sở học của mình để tránh nổi đau cho những bậc cha mẹ như mình đã gặp phải, cũng như Trần Trọng Cảnh vì đau khồ thấy ngưới trong họ chết nhiều do bị bệnh thương hàn uống nhầm thuốc mà có 7 tập Thương hàn luận .

Trong bài tựa Tâm Ðắc Thần Phương, Lãn Ông cũng có đề cập đến 2 người con gái thứ hai và thứ ba của ông là An và Hoàn đã được may mắn cứu sống vì nhờ sự hiểu biết và nghiên cứu thấu đáo của ông.

Bên cạnh sự học vấn, kiến thức rộng rãi và làm việc có hệ thống ông đã nghiên cứu một cách tỉ mỉ, nhất là bệnh đậu mùa, căn bệnh đã giết chết đứa con trai lên 5 của ông. Trong suốt một phần sáu trước tác của ông là dành cho đề tài này. Nhìn cách ông mô tả, chi mỗiû một nốt đậu mùa mà ông đã viết cả trong mấy chục trang sách mới thấy được cái tâm của ông, cái nhận xét tinh tế, cái so sánh , lý luận chặt chẽ. Ðọc một triệu chứng sốt phát ban, một dạng nang nước mụn mủ của ông rồi so sánh với một số bài nghiên cứu của Tây phương trong cuốn đại tự điển Encyclopédie Medico Chirugical hay các sách Text book của Mỹ, Anh, Pháp thì qủa khác nhau một trời một vực. Nhiều lắm thì các tác giả phương Tây chỉ viết về bệnh đậu mùa trong vài trăm trang thì ông viết đến cả ngàn trang về vấn đề này.

Cho đến ngày nay, bệnh đậu mùa không còn ai nhắc đến. Nó được chính thức tuyên bố là bị tiêu diệt từ năm 1979. Trường hợp bệnh đậu mùa xuất hiện tự nhiên lần cuối cùng là vào tháng 10 năm 1975, nhưng cách đó 300 năm thì bệnh đậu mùa là một dịch bệnh, một tai ương cho nhân loại.

Hải Thượng Lãn Ông ngoài tài năng và y đức của ông, điều làm cho các thầy thuốc Tây y sau này thích thú và kính phục ông là ông đã để lại mười hai bệnh án tử vong ( y âm án ) cho đời sau xem xét. Qua đó ta mới thấy hết tinh thần trách nhiệm đối với bệnh nhân, ông không hề ngần ngại dấu diếm, ông cũng chẳng sợ tòa án hay miệng thế gian. Ông đã ghi lại một cách trung thực, khách quan và khoa học.

Thử đọc một bệnh án tử vong về bệnh đậu mùa do ông điều trị thì mới rõ cái tinh thần trách nhiệm đó đến mức nào. Ông đã làm hết sức mình, làm hết khả năng sở học của mình nhưng người bệnh nhân ấy vẫn chết, ông ghi lại như sau : " . Ðến ngày thứ 29, ban tối thấy mẹ hắn chạy lại báo : con bà buổi chiều ăn một bát cơm chưa được no, lại ăn thêm bát cháo, khi đi nằm phát rét run, hắn xuống bếp sưởi, rét qúa lại lên giường nằm đắp áo, bỗng thấy tay chân co quắp, lưỡi rụt lại không nói được. Tôi nghe xong không kịp xem mạch, vội lấy đại tể Sâm phụ cho uống, vừa đổ được một chén nhỏ, đờm kéo lên rồi tắt thở. Án bệnh này, đáng tiếc cho tôi hơn một vất vả, tốn hết bao nhiêu công thuốc men, nghĩ đến tình mẹ góa con côi, chỉ có một con ấy, hơn mười năm nay nương tựa ở tôi làm học trò, vất vả bao phen, hết lòng làm việc cho nên chứng tuy mười phần hung hiểm, không kể gì thành hay bại, chỉ hết sức cứu vãn, công trình đắp núi đã lúc gần xong ! Ðương dữ chuyển lành, đương lành hóa dữ, chứng đáng như thế chăng ? Hoặc là thuốc không đúng chăng ? Xin ghi lại đây để hỏi các bậc cao minh ."

Bệnh đậu mùa đã cướp đi của ông hai đứa con, một là đứa con ruột một là người học trò thân thiết của ông, một nổi đau xót đối với ông không tài nào kể xiết.

Trong xã hội hiện nay so với thời đại của Hải Thượng Lãn Ông có một số quan niệm đôi khi trái ngược nhau Lãn Ông viết : " Tôi vốn là nhà nho, lúc nhỏ gặp thời loạn lạc, cánh gót giang ho , nhờ nơi Hương sơn để phụng dưỡng từ mẫu, không ngờ mây nước màng vui,rượ đàn quen thói,đường công danh hiễm trở bôn ba lại ham học về nghề thuốc, trong thì giờ nhản rỗi,không tiếc công phu nghiên cứu,bén mùi y học,càng thấy say sưa,mới bắt tay chửa bệnh, trước chửa người nhà,rồi sau chửa đến người ngoài,đã được nhiều phen kinh nghiệm,mới bạo dạn ra đi chửa bệnh cứu người . "

Bây giờ thì thì người ta khuyên rằng các thầy thuốc không nên tự điều trị cho bản thân, cha mẹ, con cái và những người thân thiết của mình . Những con số thống kê cho thấy tình cảm cá nhân của người thầy thuốc có thể làm sai lạc nhận xét và quyết định khách quan trong việc điều trị.Nền Y học hiện tại đã đi vào từng chuyên khoa sâu, người thầy thuốc đa khoa như ngày xưa nay đã trở thành người hướng đạo.

Nếu Hải Thượng Lãn Ông ở trong thời đại này, với các phương tiện xét nghiệm y khoa hiện đại, với các máy móc chuyên dùng và với sự trao đổi, thông tin toàn cầu, Lãn Ông sẽ biết ngay rằng có thể người học trò của ông bị biến chứng Viêm phổi , nhiễm trùng huyết cấp tính do vi khuẩn. và nguyên nhân này có thể làm thiệt mạng bệnh nhân vốn đã suy nhược sau bệh đậu muà , và biến chứng này có thể làn thiệt mạng bệnh nhân trong vòng 12 giờ.

May mắn thay cho thế hệ hậu sinh đã có một Hải Thượng Lãn Ông như thế để chúng ta học hỏi được cái gương khí phách của người xưa. Gương sáng ấy của bậc Ðại Y tôn, Y đức của ông, sự làm việc cẩn trọng, khoa học,đức tính khiêm tốn,quan hệ đúng đắn với đồng nghiệp, hết lòng vì nền y học và thế hệ hậu sinh, tận tuỵ với bệnh nhân, quên mình vì người bệnh phải được chúng ta noi theo .

 

BS HỒ ÐẮC DUY

Tài liệu tham khảo:

Những bài học lớn của Hải Thượng Lãn Ông đối với người cán bộ Tây Y - Giáo Sư Hồ Ðắc Di 1970

Hải Thượng Y tông Tâm Lĩnh trong thư tịch Y học Việt nam - Mai Hông - Thư viện Hán Nôm.

Vị trí của Hải Thượng Lãn Ông trong lịch sử Y học Việt Nam - Lê Trần Ðức.

Tìm hiểu Y đạo Lãn Ông - Lãn Ông trở về quê hương yêu dấu - Trương Thìn.

Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh - quyển 34 - 43, quyển 59 - 60.