trong bài thơ "ÔNG ÐỒ"
của Vũ Ðình Liên
. NGUYỄN VĂN SA
Chính
sách mở cửa hứa hẹn một sự thay da đổi thịt nhanh chóng trên nhiều
lĩnh vực - trong tương lai, ắt sẽ nẩy sinh không ít những hiện tượng dị
ứng có nguy cơ phân hủy mọi giá trị cội
nguồn. Do đấy, sự tái xuất hiện gần đây của ÔNG ÐỒ* dầu chỉ
trên giấy mực tưởng chừng là một lời nhắc nhở dịu dàng và ý nghĩa?
Chúng ta, nhất là những ai
ký ức còn sâu đậm về một thời xuân xa nào đó, hẳn chưa quên hình
ảnh:
-"Mỗi
năm hoa đào nở
Lại
thấy ông đồ già
Bên phố
đông người qua "
Vâng - ông đồ, một ông
đồ bằng xương bằng thịt "áo the khăn xếp"! Bóng dáng có thật, đại
diện một lớp người đã đi qua trong cõi đời này vào thời kỳ Nho mạt,
mà khoa thi Hương cuối cùng (1918) là nhát gươm kết thúc một hệ
thống, vốn là nền tảng văn hóa của xã hội Việt Nam tự ngàn năm
trước.
Ông đồ, đấy là những sĩ
tử thành đạt hay chưa thành đạt, nhưng nếu không"sinh nhầm thế
kỷ"hoạn lộ vẫn còn đó chờ đợi họ một sự đổi đời.
Ông đồ, cũng có thể là
những dật dân mỏi mệt chốn quan trường, tự nguyện lui về cùng sử
dụng bút nghiên như là một phương
tiện để truyền đời và cải đạo. Ở đây, ông đồ của Vũ Ðình Liên _
đúng hơn, ông đồ của triều Nguyễn
cận kim - còn là chứng nhân"chẳng đặng đừng" của một
thế hệ những con người
đang rơi lần vào sự bế tắc cùng với sự bế tắc của đất nước - "sự
bế tắc đã dẫn ông đồ đến cảnh mưu sinh bằng cách. bán chữ giữa
cảnh màn trời chiếu đất !"
Sau khi chiếm Việt Nam bằng
sức mạnh quân sự, thực dân Pháp dựa vào chữ quốc ngữ như là một
yếu tố chiến lược, để nhanh chóng
triệt tiêu vị trí độc tôn của Hán tự, đẩy lùi ảnh
Hưởng của Trung Quốc.
Là kết quả của quá trình
tiếp cận Ðông Tây, thứ sinh ngữ mới mẻ này - chữ Việt gốc La tinh -
do dễ đọc dễ viết, đã thúc đẩy
tinh thần cầu học ở những ai nuôi tham vọng tiến thân
Trong một xã hội đang được
Âu hóa.
Chữ quốc ngữ đồng thời
thỏa mãn được khát vọng thầm kín của một dân tộc phương Nam, tự bao
đời mặc cảm lệ thuộc Bắc phương về chữ viết.
Hai cuộc cách mạng Hán
Nôm hằng trăm năm trước chẳng là những thử nghiệm chơi vơi đã nói
lên niềm cay đắng đó ? Bấy nhiêu,
đủ cho một thế hệ ông đồ Hán học rơi dần vào
Lãng quên ngay trên chính
quê hương, không hiểu có còn là quê hương
của mình không ?
Thay vì đã đến cận kề với
vai trò cầm cân nẩy mực, họ bị hất bắn ra khỏi giấc mộng Nam Kha,
đối đầu với thực tế - kẻ sĩ sống không vì cơm áo, nhưng cơm áo vốn
cần thiết để tồn tại!
Ông đồ, dẫu muốn dẫu
không vẫn đành."xuống núi"!
Dạy học ư ! -" trong buổi
giao thời, tìm đâu ra môn đệ" ?
Quẳng bút lông đi, dắt
bút chì? -"tuổi tác tàn phai cùng
sĩ khí nhà nho không cho phép !"
Trước áp lực của thời
thế, chỉ còn lại đối với ông đồ: một khung cửa hẹp. Ở đấy, ông đồ
còn có cơ may gần gữi với bút nghiên tiếp tục rao giảng đạo thánh
hiền, đấy là. viết câu
đối đỏ !
Sự chọn lựa ấy không là
tối ưu.
Song ý nghĩa của sự bám víu một cách vô vọng vào phẩm chất
giai cấp _ giúp ông đồ biện minh cho sự tồn tại đáng thương của mình.
Sự tồn tại của những giá trị "được xem"là tinh túy Ðông phương,
trước sức tấn công ồ ạt của chủ nghĩa Tây phương thực dụng!
Có chăng, lòng yêu nước
âm thầm và tiêu cực của kẻ sĩ trong buổi giao thời mà ông đồ là
hiện thân mỉa mai và đau đớn?
"Có
phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay
là nhớ nước vẫn nằm mơ ?"
May mắn thay, vẫn còn
những kẻ chưa vội quên thú vui xuân thời thượng lúc ấy giờ qua câu
liễn đối.
Một số ít ỏi thị dân kia
nuôi sống ông đồ không chỉ bằng đồng tiền thuê viết. Vượt lên trên
những đồng tiền ấy là giá trị tinh thần của những lời tán thưởng
hào phóng:
-"Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay!"
Ai đã đã từng chứng kiến
những nhà nho xưa mỗi lần trước trang giấy đỏ, hẳn không quên sự
khác thường trong cách cầm bút và lối chữ tượng hình đậm nhạt, chấm phá.
"Viết như vẽ, chữ như tranh"!
Nếu chưa đạt đến trình độ
đưa"cái thần" vào chữ viết, ít ra ông đồ cũng còn lại những ngón
tay hoa. Trên bước đường cùng,với chút tài mọn lỡ làng - ông
đồ dẫu phải ngậm một mối u
Hoài chăng nữa vẫn ngỡ
rằng.còn có thể an bần lạc đạo !
Nhưng không _ cuộc sống dễ
gì cho phép ai "ngâm mình quá lâu trong niềm vui", càng không thể"chôn
chân mãi bên cạnh nỗi buồn"! Bởi
thế, ông đồ vốn dĩ là "cái di tích đáng thương của một thời tàn"
thật khó lòng giữ được những điều ông muốngiữ:
-"Nhưng mỗi năm, mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?"
Từ hoạt cảnh đáng lạc
quan, chỉ với hai dòng thơ năm chữ -cũøng sân khấu ấy và vở diễn ấy
- nhưng, người nghệ sĩ già đã mất
công chúng !
Ánh sáng dọi xuống sàn
diễn trở màu và số phận nhân vật chuyển sang một tình huống mới,
quạnh quẽ và hắt hiu!
Nền học cũ, nặng tính từ
chương và khoa bảng chỉ còn là vang bóng:
- "Giấy
đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu"
- " Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay!"
Trong cái thế giới "khói
sương mờ nhân ảnh" ngày ấy, đâu nữa bến bờ phân cách giữa hư và
thực, giữa động và tĩnh:
-"Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay!"
Người thuê viết. nay đâu
hay còn đó?
Ông đồ. vẫn còn đấy hay
đã đi rồi?
Trên con phố cũ, sinh hoạt
dẫu muôn đời nhưng lòng người đã.dửng dưng và hóa đá?
Phải chăng, rơi đến tận
cùng của sự xuống cấp - "ông đồ"à, bị hút sâu vào cỗ máy thực
dụng - "người thuê viết", bản năng tự tồn dễ khiến con người người
thuê viết và ông đồ cùng trở nên vô cảm và băng gia ù?
Kẽ sĩ xa xưa cắp sách theo
học đạo, hẳn thừa biết lẽ biến dịch vô thường của đất trời và
muôn vật, nên giờ đây ông đồ dường như có chiều buông lơi và phó
mặc, hóa thân và miễn nhiễm trước sự thăng trầm ?
Có thật, ông đồ "muốn
khơi động mối thương tâm" ở chúng
ta hay toan tính " xoay lại cảnh đời nhưng thất bại" ?
Chúng ta nhiệt tình quá
chăng khi trao gởi cho người công dân lạc điệu và khiêm tốn ấy, sứ
mệnh lệch trời của một Cao Chu Thần tài hoa và khí phách ?
Vẫy
đuôi kình, toan vượt bể Trình Chu"
Vốn nặng lòng tiếc thương
và trân trọng, vô tình chúng ta đã trùm phủ cái "tôi" chủ quan và
hiện đại lên bức tượng cổ"vô giá do đã xanh rêu"?
Ðồng cảm là thái độ nhân
bản, song đem sự xót thương gửi đến những bậc tiền bối không hề tỏ
dấu sẵn lòng tiếp nhận là một xúc phạm gây buồn tủi. Là gián tiếp
hạ thấp phẩm cách một thế hệ ông đồ vốn là bình phong che chắn
phần hồn của một dân tộc - trước sự xâm thực của một trào lưu tư
tưởng ngoại nhập chưa qua thử thách và gạn lọc.
Ðồng hóa ông đồ với
"những kẻ thân tàn ma dại" cũng
thế, có phải là cách nhìn thấu suốt hay chỉ là sự cường điệu đầy
ngụy tín về thân phận của những nhà nho trong buổi hoàng hôn Hán
học?
Tiếc thay, đối tượng bị
cường điệu đã không một lần phản bác hoặc cơ hội đễ vong thân: ông
đồ không còn nữa!
Ông đồ không còn nữa, ít
nhất với những ai chỉ quen với sự tồn tại của ông đồ qua thứ hình
hài cát bụi trên con phố ấy:
-"Năm
nay đào lại nở
Sự ra đi vĩnh viễn của ai
đó vốn gần gũi, thường đánh thức trong ta nỗi dằn vặt về một sự
thất thố lắm lúc không có thật, để rồi thảng thốt chúng ta hỏi
nhau hay tự hỏi mình:
-"Những
người muôn năm cũ
Hồn
ở đâu bây giờ ?"
Ðiều chờ đợi, ắt không
là câu trả lời cụ thể!
Ðấy chỉ là sự cảm thán
phát xuất tự đáy lòng. người thuê viết năm xưa trở lại? của khách
vãng lai ba trăm năm sau nữa?
Là âm hưởng vọng tự hư
vô, tiếng chuông gọi hồn dội ngược vào trái tim những ai hơn một
lần dừng chân bên thơ và nhớ lại ?
Nhưng, nghĩa gì thứ thân
xác bọt bèo trôi dạt về đâu.mỗi khi ông đồ vốn đã chín muồi với
quan niệm "sống gởi thác về"!
Ðiều khiến chúng ta nghĩ
đến, ngậm ngùi là những gì ông đồ để lại : phong cách kẻ sĩ, ý
thức công dân và lối ứng xử cao nhã của một con người, dẫu bị thời
thế dập vùi không thương, không tiếc.
Chúng ta thử hình dung ông
đồ trong một nhân cách trái lại- "tối rượu sâm banh, sáng sữa
bò" hoặc nặng lời nguyền rủa sự
đổi thay chỉ vì cá nhân mất đi những quyền lợi!
Thử hỏi, sự tồn tại của
một ông đồ vuột mất linh hồn như thế liệu còn gì gọi là dư âm dư
ảnh đủ để đánh động lương tâm vốn đã bị mòn mỏi tự lâu lắm rồi
của chúng ta?
Cũng cảnh, cũng người
nhưng người và cảnh đâu dễ thành thơ nếu nhà thơ không là kẻ đồng
điệu!
Vũ Ðình Liên đã thồi linh
hồn vào cảnh vật qua sự vận dụng ngôn ngữ, từ đó hằn lên phần
hồn của nhân vật: bài thơ tự hóa thân cùng với ông đồ và trở nên
bất hủ!
Một trăm từ gói trọn
trong năm khổ ngắn của bài thơ năm chữ, tưởng như một đoạn văn miêu
tả hiện thực!
Chọn mùa xuân thấm thoăùt
tạo nền tương phản để khắc họa mối cảm hoài triền miên, xưa nay
không hiếm.
Tâm trạng hoài cỗ cũng
vậy, là xu hướng muôn nơi và muôn thuở.
Nhưng phối hợp mùa hoa đào
nở với cảnh nhộn nhịp trên đường phố, để chuyển tải nội dung đầy
tính bi kịch của một thời đại qua một nhân vật "trầm tư hơn tượng đá"
là điều không đơn
giản!
Một nhà thơ mới, một bài
thơ mớiù!
ÔNG ÐỒ, phảng phất tứ thơ
Ðường thi:
-"Nhân
diện bất tri hà xứ khứ
Ðào hoa y cựu tiếu đông
phong chăng nữa , vẫn giữ một âm
hưởng riêng cô động và hàm súc.
Nhân vật của thơ, ông đồ?
Bên trong cái vỏ bọc vô
vi ấy là một nỗi lòng "buồn riêng chưa đủ, buồn nỗi buồn chung của
đất nước"!
Nền học cũ đã lỗi thời,
nhưng phủ nhận là phủ nhận chính mình -" điều mà ông đồ không thể!"
Tiếp nhận một nguồn văn
hóa mới, đổ bộ cùng lúc với sựchà đạp quyền tự chủ, liệu có nên
chăng?
Mỉa mai thay, nguồn văn hóa
này đã mang đến chất liệu để hình thành ước mơ chung của đất nước :
chữ quốc ngữ!
Với tư cách công dân, ông
đồ không thể gạt mình ra khỏi mơ ước đó. Ðiều này phải chăng giúp
chúng ta khả dĩ giải thích được thái độ trầm tĩnh của ông đồ trước
nỗi thờ ơ của nhân tình thế thái !
Thay vì là nhà nho vị kỷ, ông đồ là một kẻ
sĩ thuận thời "xót mình mà không ai oán" .
Ông đồ đã tự xóa mình,
lui về giữ lấy nền tảng đạo lý hạ tầng để dân tộc nắm lấy cơ hội
- bên cạnh nỗi tủi nhục vong quốc sẽ hoàn chỉnh nền độc lập non trẻ
về chữ viết, với một hoài bão âm thầm rằng se õcó một sự phục sinh
dựa vào chân lý"có chữ viết, còn chữ viết, nước ta còn, dân ta
còn"!
Sự lui về ấy không phải
là việc cởi giáp quy hàng. Ông đồ không là "kẻ chiến bại"!
Sự im lặng của ông
đồ - lắm lúc, còn sáng giá hơn
cả nhữnglời biện minh hay giai thich.