Ý NGHĨA
CỦA MỘT CÁI CHẾT TỰ NGUYỆN !
(qua truyện ngắn "LÃO HẠC" của NAM CAO)
NGUYỄN VĂN SA
riêng
tặng HỒ
ÐẮC DUY
Không chỉ để gọi,
cái tên của mỗi nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao _ đôi lúc
còn nói lên một cảnh ngộ, biểu hiện một tính cách, hàm ẩn một số
phận.
Nào lang Rận*
ở bẩn, cô Nhu* hiền dịu hay một Trạch văn Ðoành* nghe
như súng nổ đã lắm phen khiến kẻ khác giựt mình...Giữa rừng cu Tèo*,
đĩ Chuột*. cái tên lão Hạc cũng thế, nó hiển hiện một
phẩm cách đượm màu triết lý :
Mây bay hạc
lánh biết là về đâu ( Kiều )
Nó gợi lên hình ảnh
vừa khắc khoải trầm tư, vừa ung dung cao đạo của một loài hạc hoang
quý hiếm tuy khó gần gũi. Nhưng do đâu, lão lại chọn cho mình một
cái chết thảm ?
Ôi, tất cả cũng chỉ
bắt nguồn từ một sự cố đã lâu lắm rồi : con trai lão muốn vợ !
Một sự cố nghe ra
có vẻ đáng yêu, càng nhân bản và đáng yêu hơn bởi lão vốn góa
vợ, đã gần đất xa trời _ mà con của lão lại là một đứa con. cầu
tự !
Mỉa mai thay, giữa
lòng một xã hội phong kiến - quan niệm "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" vẫn không có một tác
dụng tích cực nào giúp con lão thỏa mãn ước nguyện "bán vườn để cố lo" !
-"Biết làm sao.hơn" lão Hạc đã khước
từ dù đau đớn.
Không những là
thành quả của một quá trình lao động cần mẫn, "mảnh vườn" kia còn biểu thị một ước vọng truyền đời của
bà vợ vắn số khi "dè sẻn mãi mới
tậu được".
Bán vườn là phủ
nhận quá khứ, phủ nhận sự nghiệp truyền thống mà trước hết là tự
đánh mất vị trí của một "dân làng"!
Viễn ảnh trở thành một "kẻ ngụ cư",
ký ức xa xưa về một "thằng mõ"
thuở chưa "vào làng" chẳng may
vợ chết không có đất chôn. khiến lão thầm xót.
Ai cấm lão giờ đây
không hình dung ra được từng bước đường cùng của hai bố con, sau ngày
bán đất.Vả lại, vẫn còn đó sau lũy tre xanh hủ tục "thách cưới" : thứ rào chắn dễ gì
bố con lão có thể khắc phục "dẫu
có bán vườn đi" !
Bế tắc trước tình
yêu vì cảnh nghèo, gã trai làng phẫn chí dẫu tránh né một thái độ
hờn trách cha, song do thiếu khả năng định hướng và với ảo tưởng "đổi đời" gã đã lặng lẽ "bán mình" cho Sở mộ phu.
Sự vắng mặt triền
miên của người con dễ chừng đã dấy lên trong lòng người cha bao nỗi
day dứt ?
Cảm giác về một sự
"bất từ" vốn không có thực
cùng năm tháng trầm uất vì thương nhớ. Bấy nhiêu đẩy lão dần đến
một sư chọn lựa không thể khác hơn - ít ra là đối với suy luận...đan
xen tinh thần duy vật, duy tâm lẫn duy lý của lão : hoặc chết hoặc. bán vườn !
Một lần nữa, bán
vườn là điều không thể !
Người ta có trăm nơi
để đi, chỉ một nơi thân thiết để. quay về : đấy là nơi chôn nhau cắt
rốn ! Ðất vườn là quê hương và quê hương luôn cần thiết với kẻ
thừa tự.
Bên kia cuộc đời,
mảnh đất vườn nếu vẫn giữ được sẽ trở thành một "mảnh đất người" - gạch nối siêu hình - giữa vợ chồng lão
cùng đứa con côi cút và ngược lại.
Trước một nguy cơ
khó lòng thoát khỏi nếu tiếp tục sống, lão Hạc sử dụng cái chết
như là một biện pháp tối ưu nhằm thể hiện quyết tâm của mình.
Lão.tự sát !
Chúng ta có thể đòi
hỏi gì hơn ở lão bần nông, đại diện một tầng lớp nông dân cùng
khổ vào thời kỳ u tối ấy ?
Không còn là nỗi
ám ảnh lãng mạn, cái chết cùng với sự đói nghèo đã trở nên hiện
thực. Hiện thực đến từng chi tiết, trong từng tác phẩm của từng nhà
văn những năm trước và sau Mùa Thu 45 !.
Ðặc biệt, Nam Cao qua
hàng loạt truyện ngắn phản ảnh quan điểm "nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ
có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp người lầm than
vang dội lên mạnh mẽ trong lòng người viết".
Và, ông đã viết.
Nam Cao viết về "cái sự thật tàn nhẫn vẫn luôn bày
ra đấy" trước mắt, nơi ông sinh ra để trở thành nhà văn chứng
nhân của bao điều đau khổ.
Từ những lời chửi
đổng rất ư truyền thống, nếu Nam Cao đã nặn nên một gã Chí Phèo
sống thuần bản năng, thì với lão Hạc - nhân vật của truyện ngắn
cùng tên tiếp theo, hình tượng được xây dựng biểu hiện một nhân
cách khác hẳn. Những bức xúc của một trí thức trước từng cảnh đời
bất công như đã được trút bỏ qua sự vay mượn thân xác, hành động
và ngôn ngữ của gã canh điền thô lỗ Chí Phèo.
Giờ đây, cũng trong
một xã hội nhỏ bé đầy dẫy sự phân hóa vô tình ấy, vẫn còn lại
những gía trị và nhân cách mà tính hiện thực của ngòi bút càng
không cho phép ông cào bằng.
Vâng, vùng quê ông
nếu lắm "ma" _ những con ma tham lam và độc ác như bá Kiến, ắt không
vì thế lại thiếu "người" - những con người như lão Hạc sĩ khí và cao
ngạo !
Tính hiện thực như
còn được gia cố thêm bởi sự "hoá
thân một nửa" của tác giả vào "nhân
vật phụ" hiếm hoi là ông giáo làng. Tiếc thay, một ông giáo
phải bán đi những cuốn sách "rất
nâng niu" và dẫu "chữ nghĩa
nhiều" vẫn không đủ bình tâm "tin
mình và tin người", để dập tắt thói quen hoài nghi và ngộ nhận.
Một ông giáo mà
lòng nhân ái chỉ dừng lại ở... sự trắc ẩn !
Ðành rằng, sống
phải có lòng trắc ẩn _ nhưng, sống dựa vào lòng trắc ẩn lại là
một điều khác hẳn. Giữa ông giáo làng và lão nông kia, chúng ta dễ
gì biết... ai sẽ đáng trách hơn ai ?
Phải chăng, ông
giáo là hình ảnh một bộ phận kẻ sĩ bấy giờ đã đánh mất tính tiên
phong cũa giai cấp kẻ sĩ trước vận
nước nghiêng ngửa ! Lòng yêu nưóc có chăng ở họ, chỉ vừa đủ để
làm nên "những tiếng thở dài",
hoặc như ông giáo lặng thinh trước một cái chết có.nguyên nhân !
Một ông giáo như
thế làm sao có thể là một Nam Cao sống thực đã sả thân vì nghiệp
nước hay một lão Hạc dù hư cấu, quyết giữ đất cho con bằng mọi giá
?
Nghệ thuật vốn dĩ vị nhân sinh và sứ mệnh văn nghệ không cho
phép nhà văn "ung dung ngồi trên
boong những chiếc du thuyền, tận hưởng cảnh đẹp giữa lúc - dưới gậm
thuyền, hàng trăm nô lệ bị xiềng chân đang gập mình ra sức bơi chải"1.
Người nghệ sĩ cần phải làm một điều gì đó xứng đáng với chức
danh của mình.
Cuộc đời và văn nghiệp đã chứng thực không những là cây bút
của dân nghèo, Nam Cao còn là nhà văn thấu hiểu nạn nhân của sự
áp bức và ngụy tín. Những kẻ muốn nhưng không thể là "người lương thiện", để rồi vong
thân vì miếng cơm manh áo như Chí Phèo, thằng mõ.
Không những vạch
trần những ung nhọt, Nam Cao thực tâm muốn góp phần thay đổi xã hội
qua văn ông bằng cách nhen nhúm một tinh thần lạc quan, giúp mọi
người cũng như chính ông thấy trước được một tương lai tươi sáng -"sự đời không thể cứ mù tịt mãi thế
này đâu.Một mặt trời mới sẽ mọc lên.bàn tay sẽ nắm lấy bàn tay
cùng đi tới".
Với lão Hạc, tinh
thần lạc quan ấy đành rằng được phản ảnh thật hắt hiu qua một cảnh
ngộ đáng ngậm ngùi.
Nhưng từ những giá
trị nhân bản về tình cha con, nghĩa chồng vợ hoặc lòng tự trọng "đầy hách dịch". kể cả tiếng khóc
dành cho một con vật bị đánh lừa, cũng thừa đủ khơi gợi sự cảm
thương cũng như ý thức trách nhiệm cộng đồng từ phía người đọc. Nhất
là với những ai ký ức còn sâu đậm về một thời tang tóc đã qua.
Giọng mỉa mai chua
chát đã nhường chỗ cho một bút pháp gây xót xa. Nụ cười "đưa đà" đầy kịch tính của lão Hạc
khi so sánh kiếp mình với kiếp chó cũng không còn hàm ẩn trọn vẹn
tính tiếu đời vốn sẵn của Nam Cao.
Thay vào đó là lối
sử dụng ngôn ngữ đời thường _ một tính cách rất riêng nữa của Nam
Cao _ tạo sinh động ở những đoạn đối thoại như cuộc trò chuyên giữa
người và vật. Ðúng hơn, một màn độc toại gây thổn thức của nhân
vật trước một đối tượng đuợc nhân hoá khá thành khẩn :
-" Nó giết mày đấy ! Mày biết không ? Ông
cho thì bỏ bố ! Mừng à ! Vẫy đuôi à ! Vẫy đuôi thì cũng giết !"
Âm vang của lời mắng yêu hẳn dội ngược vào tận đáy lòng kẻ
thốt lên và cái tên gọi "cậu
Vàng" đã không cần che dấu nữa nỗi xót vì xa con.
Bi kịch phải chăng
vào những năm tháng cuối đời không nơi nương tựa, lão Hạc đành quay
về với sự cô tịch, tâm sự đầy vơi với một con vật vốn chỉ biết vẫy
đuôi và hếch mõm ?
Ðể rồi, thứ kỷ vật
vô giá ấy đến lúc cũng phải bán đi, không đơn thuần để giải quyết
một miệng ăn, đấy còn là một thao tác dứt điểm nhằm củng cố ý đồ
của " lão tử tù tự nguyện" !
Tự nguyện ư ?
Chính cái tinh thần
tự nguyện, chết hay bị lưu đày của bố con lão mới là trọng tâm của
một chủ đề cần nghiền ngẫm.
Thực dân Pháp vào
một thời điểm nhất định, quả thật đã thành công qua sách lược cùng
khổ hoá và ngu dân nhằm triệt tiêu sức đề kháng của một dân tộc.
Hệ thống đồn điền mở rộng cánh cửa thu gom và vắt cạn sức cần lao
của bao thế hệ thanh niên bản xứ :
-"Thẻ của nó người ta giữ. Hình của nó người
ta chụp. Nó là người của người ta rồi".
Ôi, đáng sợ thay
cái tinh thần nô lệ theo thời gian đã thấm sâu vào tâm tưởng của
người dân đen như "cái sợ cố hữu"
của Chí Phèo trước bọn cường hào ác bá.
Trong một xã hội mà
kẻ ác nếu sống hay chết...đã sống
và chết một cách ngọt ngào, thì những người lương thiện như lão
Hạc bị đẩy vào tình thế thay vì...muốn
sống phải chọn lấy một cái chết. dữ dội !
Cái xã hội ấy khác
gì một " thị trấn Oran bị phong tỏa"(2)
đang tràn ngập những đứa trẻ ngây thơ vô tội "nạn nhân của dịch hạch" (3)
- Hình ảnh của những đứa trẻ đáng thương trong giây phút quằn quại
ấy cũng là hình ảnh vật vã của lão Hạc trước cái chết. là một yêu
cầu của nhà văn, muốn đẩy đến cùng sự phẫn nộ, thổi bùng lên ý
thức đấu tranh chống lại những mầm mống hiện thực dẫn đến đói
nghèo và sự hủy diệt.
Nam Cao đồng thời
cũng muốn đẩy lùi khuynh hướng an bài vốn bàng bạc trong mục tiêu
nhắm đến của chính sách ru ngủ, mị dân của các thế lực thống trị :
thực dân lẫn phong kiến...
Non nửa thế kỷ, tác
giả đã nằm xuống cùng nhân vật.
Nhưng bi kịch về
những con người tìm cách thoát khỏi số phận vẫn còn đó. Những con
người vốn ấp ủ, một điều gì không ai có thể phủ nhận song đủ sức
cuốn hút, khiến họ lao tới như lão Hạc đã lao tới cái chết.
Tuy nhiên, khác hẳn một kẻ tử đạo - lão Hạc không mưu cầu một
hình thức cứu chuộc nào cho chính bản thân. Ấy thế, đức tin của lão
còn mạnh mẽ và khác thường hơn, dựa vào tình cảm thiêng liêng dành
cho một kẻ có thực trong đời sống :
con trai lão.
Và, thay vì chờ đợi
ân sủng tự trời cao, lão chỉ muốn giữ lại những gì vốn sẵn của con
lão : một chỗ đứng trên quê hương !
Trong tinh thần đó,
cùng với tên tuổi của tác giả _
tác phẩm LÃO HẠC đã tồn tại bằng tất cả sức mạnh đau thương
của nó !
Chú
thích :
*Tên các nhân vật
và truyện ngắn của Nam Cao.
1Sứ mệnh văn nghệ
hiện đại - Albert Camus.
2Thành phố Oran của
Algérie (Phi châu), địa
danh bị dịch hạch trong tác phẩm La Peste
của
A.Camus.
3La Peste
.