SÀIGÒN 300 NĂM
Lịch sử bệnh Thương hàn
Bác sĩ HỒ DẮC DUY
* Năm 1998 ,năm kỷ
niệm Sàigòn tròn ba trăm tuổi.
* Sức khỏe,bệnh tật và đời sống
của cư dân vùng đất mới này như thế nào ?
* Trong những nguyên nhân đưa đến
tử vong cho người dân, bệnh Thương Hàn là một.
Sài gòn ngày xưa là đất Phù Nam, về sau
thuộc nước Chân
Lạp năm Kỷ Mùi 1679 chúa Nguyễn Phúc Tần
sai Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Ðịch đem gia thuộc hơn 3000 người
vào địa phận đất Tân Mỹ (Gia Ðịnh Mỹ Tho) mở đồn dựng Dinh, năm 1698
Ðời Nguyễn Phúc Chu mới chính thức đặt tên là Phủ Gia Ðịnh, chia đất
Ðông Phố lấy xứ Ðồng Nai làm huyện Phúc Long, lấy xứ Sài Gòn làm
huyện Tân Bình dựng Dinh Phiên Trấn, đặt thống xuất Chưởng cơ Nguyễn
Hữu Cảnh làm kinh lược, đặt các chức giám quân, cai bạ, ký lục lập
nên một bộ phận hành chính, quân sự, giáo dục và y tế.
Về khía cạnh bệnh tật thì có thể nói
trước năm 1679 Sài Gòn tập trung một số dân Chân Lạp và ít người
Việt Từ năm 1698 đến năm 1802 Saìgòn đã hình thành khu vực dân cư
với một số bệnh tật phần nhiều là bệnh truyền nhiễm đường tiêu
hóa như kiết lị, dịch tả, thương hàn . và một số bệnh dịch khác như
đậu mùa, đau mắt hột, dịch hạch .đó là những nguyên nhân chủ yếu
gây tử vong.
Trận dịch năm 1820 xảy ra từ Hà tiên, Gia
Ðịnh cho đến Bắc Thành làm chết 206.835 người tức là chết khoảng1/3
dân số của cả nước.Năm 1826 tại Gia Ðịnh một trận dịch khác làm
chết 18.000 người gần ½ số dân ở sài Gòn - Gia Ðịnh lúc đó .
Tổng số dân ở Sài Gòn - Gia Ðịnh vào năm
1847 là 51.788 trên tổng số dân cả nước là 1.024.388 người Năm 1847
là năm chiến thuyền của thực dân Pháp nổ súng vào quân ta ở Ðà
Nẵng khởi đầu cho một cuộc chiến kéo dài gần 100 năm.
Năm 1861 Pháp huy động 10.000 người với 30
thuyền chiến đánh chiếm đồn Kỳ Hòa, Nguyễn Tri Phưong bị thương ở
cánh tay, Phạm Thế Hiển, Nguyễn Duy . tử trận,phíaquân ta 300 trận
vong, xác chết rửa mục khắp nơi làm dân chúng không dám uống nước,
về sau gom lại chôn ở Thuận Kiều, một số khác được dân chúng đem
bỏ xuống các giếng nước và lấp đất lại, sự kiện đó làm ô nhiễm
nguồn nước nhất là các mạch nước ngầm và đây chính là nguyên nhân
gây ra nhiều bệnh dịch chết người.
Năm1864 Pháp chiếm Sài Gòn và đặt các cơ
quan đầu não về quân sự và hành chánh đồng thời họ lập một nhà
thương quân đội ở khu Ðồn Ðất ( hiện nay là bệnh viện Nhi Ðồng II ),
viện Pasteur được thành lập tháng 2 năm1891, Pasteur đã cử Albert
Calmett làm viện trưởng đầu tiên, ông đã cùng với Brau, Metin, F.Noc
nghiên cứu bệnh kiết lỵ ở Sài Gòn, nghiên cứu tác nhân gây bệnh
từ các mẫu vật ở tử thi.
Phân tích tính chất phân về phương diện tế
bào và vi trùng học, quan sát các tổn thương màng nhầy của ruột.
Năm 1891 Metin đã phân lập được vi trùng trong phân, trong nguồn nước
và trong đất. Trong một bản tường trình họ đã đưa ra một số nhận định
như sau bệnh tiêu chảy xảy ra nhiều nhất lúc bắt đầu từ tháng 6 đến
tháng 8 nguyên nhân của tiêu chảy do Amibe, Lamblia, Trichomonas, vi
trùng trong đó vi trùng lị và thương hàn là chủ yếu.
Từ khi người Pháp đặt chân đến Sài Gòn
họ mang theo một quan điểm y học phương Tây hoàn toàn xa lạ với nền y
học bản địa. Các nhà khoa học cùng các thầy thuốc trong đạo quân
viễn chinh Pháp đã dần dần làm thay đổi quan niệm về cách phòng
bệnh và điều trị của người Sài Gòn.Kiểu lập luận giải thích bệnh
tật theo y học thực nghiệm của Claude Bernard và công việc của họ
được lưu lại bằng văn bản, hồ sơ bệnh án và in thành tạp chí.
Trước năm 1904 bệnh thương hàn chưa được
biết rõ lắm, sự chẩn đoán bệnh dựa theo bệnh sử, triệu chứng xét
nghiệm dựa vào phản ứng huyết thanh.
Từ năm 1917 viện Pasteur Sài Gòn mới đảm
nhận việc cấy máu để xác định tìm vi trùng thương hàn ở các bệnh
nhân ở bệnh viên quân đội, bệnh viện Chợ Quán và bệnh viện Chợ
Lớn (Chợ Rẫy). Một số lớn trường hợp bệnh thương hàn đã được xác
định. Trong năm 1919 đến năm 1921 N.Berkard và J.Babley đã cấy được 792
mẫu máu và 346 mẫu dương tính trong đó vi trùng thương hàn Eberth chiếm
90 %. Năm 1947 một trận dịch xảy ra trong nội thành Sài Gòn vào các
tháng 8,9,10 với 175 trường hợp.
Delbove và Reynes là hai nhà nghiên cứu đã
có nhận xét về phương diện dịch tế học. Bệnh thương hàn xảy ra cho
bất cứ ai và đặc biệt xảy ra cho những người ăn ở không hợp vệ
sinh, không tuân thủ theo những điều kiện vệ sinh tối thiểu, bệnh
lây lan do tay bẩn, do ruồi nhặn và do nguồn nước bị ô nhiễm.
Trong một nghiên cứu dài từ năm 1955-1959
người ta đã rút ra một số kết luận dựa trên 10.000 trường hợp thương
hàn:
* Tần xuất bệnh xảy ra quanh năm, có khi
lên khi xuống nhiều vào những tháng đầu mùa mưa và gần tết âm lịch,
đường lây lan chủ yếu là do nước trong khi đó ở trong mùa khô thì do
ruồi. Ở những tháng mà ruồi sinh sản nhiều thì bệnh thương hàn xuất
hiện nhiều hơn tuy là nguồn lây lan do ruồi ít hơn là do nước.
* Người lành mang mầm bệnh: cư dân Sài Gòn
năm xưa gồm có ngưòi Việt, người Hoa, người Ấn Ðộ và người Âu .
ngoại trừ người Âu ít mang mầm bệnh hơn là người cộng đồng khác. Sự
lây lan do di chuyển do kinh tế và do chiến tranh rất khó kiểm soát.
Năm 1915 thành phố được chỉnh trang và
thiết kế cho một cộng đồng dân cư là 250.000 người, đến năm1962 thì
dân số là 2.162.000 trong đó sự đột biến gia tăng này nhiều ở các
năm 1946, 1953 và 1965. Sau mỗi đợt bùng nổ dân số lại có một đợt
dịch thương hànvà các bệnh dịch khác xảy ra. Tết âm lịch năm 1954 một
trận dịch thương hàn xảy ra tại Sài Gòn, lúc đó dân số ở Sài Gòn
1.500.805 người mà chỉ có 1514 người được chủng ngừa thương hàn, con
số này xem ra không đáng kể.
Nhà máy nước tại Sài Gòn được thành lập
vào khoảng năm 1930 chỉ đặc biệt cung cấp cho người Âu, cung cấp cho
các trại lính và cho các khu phố chính . Theo thống kê năm 1956 cho
thấy trung bình một vòi nước công cộng thì sử dụng cho 100 đến 200 gia
đình. Ở khu vực đông dân cư như ở Tân Sơn Nhất, Gò Vấp, Chợ Lớn .số
lượng nước cung cấp trung bình cho một người là 80 lít/ngày trên tính
toán, còn thực tế thì ít hơn nhiều. Dân chúng sử dụng chủ yếu là
nước giếng, nước ở ao, rạch . nước sinh hoạt và nước uống cùng dùng
chung một nguồn đây chính là lý do để bệnh thương hàn có quanh năm
suốt tháng. Nguyên nhân gây tử vong là các bệnh về đường ruột như
tiêu chảy, dịch tả, kiết lị và thương hàn. Tử vong của trẻ dưới một
tuổi cao gấp 10 lần so với trẻ lớn hơn.
Một số biện pháp nhằm ngăn chặn nạn dịch
lan tràn được áp dụng rất sớm. Luật Santé Publique ngày 15.1.1905 về
bảo vệ sức khỏe cộng đồng được ban hành và chính thức được áp dụng
tại Sài Gòn ngày 1.4.1907, đến năm 1937 được bổ sung thêm về các
biện pháp kiểm soát và tránh lây lan.
* Vệ
sinh nước uống.
*
Kiểm tra thịt.
* Vệ
sinh thực phẩm.
* Vệ
sinh môi trường nhà ở.
* Vệ
sinh cộng đồng nhà máy.
* Vấn
đề nghĩa trang.
Nếu ai vi phạm thì phạt từ 16 franc đến 500
franc và phạt giam từ 1 đến 5 ngày. Nếu ai vi phạm nặng hơn thì bị
phạt tiền đến 1000 franc, phạt giam 2 tháng, tái phạm phạt giam 6
tháng.
Mặc dù những biện pháp hành chánh được
áp dụng nhưng trước những biến động bùng nổ về di dân, đô thị hóa
và chiến tranh từ năm 1945 đến 1975 sự buôn bán lan tràn các dược
phẩm đã làm cho bệnh thương hàn càng ngày càng trở nên phổ biến hơn
bệnh xảy ra quanh năm và có những đợt bộc phát ( xem diễn tiến bệnh
thương hàn từ năm 1953 - 1959 ).
Năm 1970, trong một nghiên cứu ở bệnh viện
Nhi Ðồng tỷ lệ bệnh thương hàn cấy dương tính là 1%
Từ năm 1971 đến 1973 có 12 trường hợp
nhiễm trùng do thương hàn ở trẻ dưới 2 tuổi, tình trạng bệnh thương
hàn xảy ra ở trẻ con dưới 2 tuổi và trẻ sơ sinh là phản ánh tình
trạng kém vệ sinh trong cộng đồng vì ở lứa tuổi đó rất khó nhiễm
bệnh này ngoại trừ trường hợp trẻ bò lê lết, lăn lóc ở dưới đất
cát bẩn thiểu.
Năm 1974 một trận dịch thương hàn làm náo
động một khu vực, chỉ trong một tháng mà có hơn 1000 bệnh nhân bị
thương hàn ở xã Tam Bình, Thủ Ðức phải chuyển vào bệnh viện 296
người trong đó có 10 người tử vong.
Kiểm kê dân số năm 1975, khu vực Sài Gòn
Gia Ðịnh là 3,5 triệu dân, mật độ dân số có vùng lên đến 50.000
người\ 1 km. Môi trường sống bị ô nhiễm nặng vì hệ thống xử lí rác
thiếu thốn.
Việc cung cấp nước sạch còn hạn chế, tổng
số giường bệnh điều trị khoảng 8.000 giường trong đó của tư nhân hơn
phân nữa. Tứ năm 1975 - 1980 có những trận dịch xảy ra khá trầm trong
như : * 1976 dịch tả
* 1976 - 1977 dịch não mô cầu
* 1977 dịch hạch
* 1975 -1976 - 1979 dịch sốt xuất huyết
* Riêng về dịch thương hàn năm1976 trên 1000
trường hợp, giảm dần và gây dịch vào năm 1990 - 1994.
Dịch thương hàn xảy ra nhiều từ tháng 4 đến
tháng 8 dương lịch, chỉ trong 20 ngày trong tháng 11 - 1997 riêng tại hai
phường 9 và phường 12, Q6 đã có 50 người mắc bệnh thương hàn nguyên
nhân là do nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm do dân ở khu vực này đục
đường ống để lấy nước làm cho đường ống bị bể hoặc không được hàn
gắn đúng kỉ thuật gây nên tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm.
Thương hàn là một bệnh lây lan đường tiêu
hóa. Thức ăn, nước uống bị nhiễm bẫn bởi phân của người mang mầm
bệnh thương hàn là nguyên nhân chủ yếu.
Do đó vệ sinh môi trường, xử lý rác,
cống, hố xí, cung cấp nước sạch, tiêm chủng, kiểm soát người mang
mầm bệnh, kiểm tra chất lượng vệ sinh thực phẩm, giáo dục vệ sinh
cá nhân sẽ góp phần ngăn chặn sự lây lan của bệnh thương hàn. Việc
giải tỏa kênh Nhiêu Lộc mà trên đó có vô số hố xí công cộng là
một điều tốt góp phần ngăn chặn một phần nào sự ô nhiễm nguồn
nước